image banner
Phát triển công nghiệp văn hoá theo tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW: Gợi mở từ kinh nghiệm phát huy giá trị ẩm thực của Nhật Bản
 

Nguyễn Thị Ngọc Anh

Trung tâm Nghiên cứu Nhật Bản

Viện Nghiên cứu Châu Á – Thái Bình Dương

1.      Mở đầu

Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng mở rộng từ lĩnh vực kinh tế sang văn hóa, sáng tạo và sức mạnh mềm, phát triển công nghiệp văn hóa đã trở thành xu hướng chung của nhiều quốc gia [1]. Không chỉ tạo ra giá trị kinh tế, các ngành công nghiệp văn hóa còn góp phần quảng bá hình ảnh quốc gia, củng cố bản sắc dân tộc và nâng cao vị thế trên trường quốc tế. Nhận thức rõ xu thế đó, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác định phát triển công nghiệp văn hóa là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát huy sức mạnh mềm và xây dựng thương hiệu quốc gia trong giai đoạn phát triển mới [1].

Tại Phiên họp thứ hai ngày 13/7/2026 nhằm đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam và triển khai nhiệm vụ công tác trong thời gian tới, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu: “từng bước chuyển mạnh tư duy từ quản lý văn hóa sang kiến tạo phát triển”, “chuyển từ tư duy coi văn hóa là một lĩnh vực phát triển sang xác lập văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội; chuyển từ không gian văn hóa truyền thống sang phát triển văn hóa trong cả không gian thực và không gian số; chuyển từ tư duy bảo tồn là chủ yếu sang kết hợp chặt chẽ giữa bảo tồn và sáng tạo” [2]. Chỉ đạo này tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng, vai trò kiến tạo và quản lý của Nhà nước trong việc hoàn thiện thể chế, tạo môi trường thuận lợi để các chủ thể sáng tạo, doanh nghiệp và cộng đồng cùng tham gia phát triển công nghiệp văn hóa.

Theo tinh thần Nghị quyết số 80-NQ/TW, công nghiệp văn hóa không chỉ được nhìn nhận như một lĩnh vực kinh tế dựa trên việc phát huy các giá trị văn hóa mà còn là một phương thức chuyển hóa nguồn lực văn hóa thành nguồn lực phát triển. Cách tiếp cận này khẳng định rằng, bên cạnh vai trò là nền tảng tinh thần của xã hội, văn hóa còn là nguồn lực nội sinh quan trọng, có khả năng tạo ra giá trị gia tăng, việc làm, sức cạnh tranh và ảnh hưởng quốc tế. Việc phát triển công nghiệp văn hóa vì thế cần gắn chặt với đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển thị trường văn hóa và hội nhập quốc tế, đồng thời bảo đảm gìn giữ, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Để công nghiệp văn hóa thực sự trở thành ngành kinh tế quan trọng, Việt Nam cần phát huy hiệu quả các lợi thế về di sản văn hóa, nguồn nhân lực sáng tạo và bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp, địa phương và cộng đồng trong quá trình phát triển.

Trong số các lĩnh vực có quan hệ mật thiết với công nghiệp văn hóa, ẩm thực ngày càng được nhiều quốc gia coi là một nguồn tài nguyên có giá trị. Không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hay tạo ra sản phẩm du lịch, ẩm thực còn kết tinh các giá trị lịch sử, tri thức bản địa, lối sống, thẩm mỹ và bản sắc dân tộc; vì vậy, có thể trở thành một nguồn lực quan trọng của công nghiệp văn hóa và sức mạnh mềm quốc gia. Nhật Bản là một trong những quốc gia tiêu biểu trong việc phát huy giá trị văn hóa của ẩm thực để hỗ trợ phát triển công nghiệp văn hóa và gia tăng sức hấp dẫn quốc gia [5]. Thông qua việc quảng bá Washoku, triển khai các chính sách gắn với Cool Japan, sự hỗ trợ của Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản Nhật Bản (MAFF), cùng với việc Washoku được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2013, Nhật Bản đã từng bước chuyển hóa ẩm thực từ một giá trị truyền thống thành một tài sản văn hóa có giá trị kinh tế và sức lan tỏa quốc tế.

Trong bối cảnh Việt Nam đang triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW, kinh nghiệm của Nhật Bản cho thấy phát triển công nghiệp văn hóa không chỉ đòi hỏi nguồn tài nguyên văn hóa phong phú mà quan trọng hơn là một chiến lược tổng thể nhằm kết nối giữa chính sách nhà nước, doanh nghiệp, cộng đồng sáng tạo và hoạt động đối ngoại. Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung phân tích kinh nghiệm phát huy giá trị ẩm thực của Nhật Bản như một trường hợp tiêu biểu trong phát triển công nghiệp văn hóa và sức mạnh mềm quốc gia, từ đó gợi mở một số định hướng tham khảo đối với Việt Nam trong quá trình triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW.

2.      Một số cơ sở lý luận về phát triển công nghiệp văn hóa dựa trên tài nguyên ẩm thực

Để làm rõ vai trò của ẩm thực trong phát triển công nghiệp văn hóa, cần đặt lĩnh vực này trong hệ thống các khái niệm lý luận liên quan. Có thể hiểu công nghiệp văn hóa là tập hợp các ngành sản xuất, lưu thông và cung ứng sản phẩm, dịch vụ văn hóa trên cơ sở kết hợp sáng tạo, tri thức, công nghệ và phương thức tổ chức sản xuất hiện đại. So với khái niệm công nghiệp sáng tạo, công nghiệp văn hóa thường tập trung trực tiếp hơn vào các sản phẩm, dịch vụ và giá trịnội dung văn hóa.

Trong mối liên hệ với công nghiệp văn hóa, ẩm thực có thể được tiếp cận như một lĩnh vực dịch vụ và thực hành văn hóa đặc thù. Khi các giá trị di sản, tri thức bản địa và thẩm mỹ ẩm thực được bảo tồn, sáng tạo, chuẩn hóa phù hợp và tích hợp với các ngành kinh tế, văn hóa khác, chúng có thể tạo ra giá trị kinh tế và giá trị xã hội. Việc giới thiệu, quảng bá các giá trị ẩm thực ra thế giới thông qua các kênh đối ngoại, giao lưu nhân dân, du lịch, thương mại và truyền thông là một bộ phận của ngoại giao văn hóa. Qua đó, ẩm thực có thể góp phần định vị hình ảnh tích cực, nâng cao mức độ nhận diện thương hiệu quốc gia và gia tăng sức mạnh mềm - tức khả năng tạo sức hấp dẫn và thuyết phục thông qua văn hóa, giá trị và chính sách.

3.   Kinh nghiệm của Nhật Bản: Đưa ẩm thực trở thành một trong những nguồn lực quan trọng của công nghiệp văn hóa và sức mạnh mềm quốc gia

Một trong những điểm nổi bật trong quá trình phát triển công nghiệp văn hóa của Nhật Bản là việc chuyển hóa ẩm thực từ một giá trị văn hóa truyền thống thành nguồn lực hỗ trợ phát triển kinh tế, du lịch và ngoại giao văn hóa [5]. Khác với cách tiếp cận chỉ quảng bá các món ăn nổi tiếng, Nhật Bản từng bước xây dựng một cách tiếp cận tổng thể, trong đó ẩm thực được đặt trong mối liên hệ với bản sắc dân tộc và thương hiệu quốc gia, qua đó góp phần tạo nên sức mạnh mềm. Cách tiếp cận này đã giúp Washoku không chỉ trở thành một biểu tượng của văn hóa Nhật Bản mà còn là nguồn lực văn hóa có sức lan tỏa trên phạm vi quốc tế.

Điểm nổi bật đầu tiên là vai trò kiến tạo và điều phối của Nhà nước. Từ đầu những năm 2000, Chính phủ Nhật Bản ngày càng coi trọng văn hóa và các ngành công nghiệp sáng tạo như những lĩnh vực có khả năng đóng góp cho tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh nền kinh tế tăng trưởng chậm. Trên cơ sở đó, nhiều chính sách được ban hành nhằm phát huy các giá trị văn hóa truyền thống như một lợi thế cạnh tranh quốc gia. Trong lĩnh vực ẩm thực, Bộ Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thủy sản Nhật Bản (MAFF) giữ vai trò quan trọng trong xây dựng và triển khai các chương trình quảng bá, hỗ trợ đào tạo nhân lực, thúc đẩy tiêu chuẩn chất lượng, kết nối nhà hàng, doanh nghiệp và các tổ chức tham gia quảng bá ẩm thực Nhật Bản ở nước ngoài. Bên cạnh đó, chính sách Cool Japan góp phần tạo cơ chế phối hợp giữa Nhà nước và khu vực tư nhân, kết nối ẩm thực với các ngành sáng tạo khác như điện ảnh, anime, thời trang, thiết kế và du lịch, qua đó mở rộng sức ảnh hưởng của văn hóa Nhật Bản trên trường quốc tế [4].

Thứ hai, Nhật Bản đạt được nhiều kết quả tích cực trong việc xây dựng một “câu chuyện quốc gia” cho ẩm thực. Thay vì chỉ tập trung quảng bá từng món ăn riêng lẻ, Nhật Bản giới thiệu Washoku như một hệ giá trị văn hóa phản ánh mối quan hệ hài hòa giữa con người và thiên nhiên [3]. Washoku không chỉ được nhận diện qua sushi, sashimi hay tempura mà còn gắn với các đặc trưng như tôn trọng mùa vụ, cân bằng dinh dưỡng, sự tinh tế trong trình bày món ăn, tinh thần hiếu khách (omotenashi) và sự coi trọng tay nghề của người chế biến. Việc UNESCO ghi danh Washoku - văn hóa ẩm thực truyền thống của người Nhật, đặc biệt gắn với lễ đón năm mới - vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại năm 2013 đã tạo thêm cơ sở quốc tế quan trọng cho hoạt động bảo tồn và quảng bá. Sau sự kiện này, hình ảnh ẩm thực Nhật Bản ngày càng gắn với các giá trị như sự lành mạnh, tinh tế, an toàn và chất lượng cao, góp phần củng cố thương hiệu quốc gia và nâng cao sức hấp dẫn của Nhật Bản đối với khách du lịch quốc tế.

Thứ ba, Nhật Bản đã xây dựng hệ sinh thái công nghiệp văn hóa dựa trên sự kết nối giữa ẩm thực với các lĩnh vực kinh tế - văn hóa khác [5]. Trong chiến lược phát triển của Nhật Bản, ẩm thực không tồn tại như một ngành độc lập mà được tích hợp với quảng bá du lịch, xuất khẩu nông sản, điện ảnh, truyền hình, truyện tranh, anime và truyền thông số. Hình ảnh các món ăn Nhật Bản xuất hiện thường xuyên trong phim ảnh, chương trình truyền hình, manga hay anime đã tạo nên sự hấp dẫn đối với công chúng quốc tế, thúc đẩy nhu cầu trải nghiệm văn hóa và du lịch Nhật Bản. Đồng thời, sự phát triển của hệ thống nhà hàng Nhật Bản ở nước ngoài (đạt khoảng 187.000 nhà hàng vào năm 2023, tăng hơn ba lần so với năm 2013) [6] đã trở thành kênh phân phối trực tiếp đóng góp hiệu quả vào việc gia tăng nhu cầu đối với nguyên liệu thực phẩm, gia vị và các sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu của Nhật Bản. Nhờ đó, ẩm thực không chỉ tạo ra giá trị trong lĩnh vực dịch vụ mà còn tạo hiệu ứng lan tỏa sang nhiều ngành kinh tế khác, hình thành chuỗi giá trị tương đối đồng bộ của công nghiệp văn hóa.

Thứ tư, Nhật Bản chú trọng mở rộng sự tham gia của nhiều chủ thể trong hoạt động ngoại giao văn hóa, qua đó phát huy vai trò của nhà hàng, đầu bếp, doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp và cộng đồng người Nhật ở nước ngoài trong quảng bá văn hóa. Bên cạnh các cơ quan nhà nước, khu vực tư nhân, các tổ chức xã hội và cộng đồng cũng tham gia thông qua lễ hội ẩm thực, tuần lễ văn hóa Nhật Bản, hội chợ thương mại, hoạt động giao lưu đầu bếp và các nền tảng truyền thông số. Những hoạt động này tạo ra không gian trải nghiệm trực tiếp, giúp công chúng quốc tế tiếp cận văn hóa Nhật Bản qua ẩm thực. Sự tham gia rộng rãi của nhiều chủ thể góp phần đa dạng hóa nguồn lực, hình thành mạng lưới quảng bá có tính xã hộităng khả năng duy trì ảnh hưởng lâu dài.

Tuy nhiên, mô hình của Nhật Bản cũng đặt ra một số vấn đề cần được xem xét thận trọng khi tham khảo. Việc chuẩn hóa và thương mại hóa ẩm thực, nếu được áp dụng thiếu linh hoạt, có thể làm giảm khả năng thích ứng với đặc điểm văn hóa và thị hiếu của từng thị trường. Bên cạnh đó, thực tiễn hoạt động của một số chương trình và quỹ đầu tư thuộc khuôn khổ Cool Japan cho thấy yêu cầu phải nâng cao hiệu quả phối hợp công - tư, năng lực thẩm định dự án và mức độ am hiểu thị trường tiếp nhận. Vì vậy, kinh nghiệm Nhật Bản cần được nghiên cứu có chọn lọc, trên cơ sở nhận thức đầy đủ sự khác biệt về thể chế, nguồn lực, năng lực quản trị và trình độ phát triển thị trường giữa các quốc gia.

4.      Gợi mở cho Việt Nam trong triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW từ kinh nghiệm của Nhật Bản

Việc vận dụng kinh nghiệm quốc tế cần được thực hiện có chọn lọc, phù hợp với điều kiện phát triển, nguồn lực và đặc điểm thể chế của Việt Nam. Nghị quyết số 80-NQ/TW đã xác lập định hướng quan trọng nhằm phát triển công nghiệp văn hóa trở thành một ngành kinh tế quan trọng, đồng thời phát huy vai trò của văn hóa như một nguồn lực nội sinh và sức mạnh mềm quốc gia [1].

Cần nhấn mạnh rằng, việc phát triển công nghiệp văn hóa tại Việt Nam phải đặt trong tổng thể xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý thống nhất của Nhà nước [2]. Quá trình chuyển hóa tài nguyên văn hóa ẩm thực thành giá trị kinh tế cần bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển thị trường với việc giữ gìn bản sắc, củng cố nền tảng tinh thần của xã hội và bảo vệ lợi ích quốc gia. Cần tránh khuynh hướng thương mại hóa đơn thuần, chạy theo lợi ích ngắn hạn hoặc làm giản lược, sai lệch các giá trị di sản văn hóa truyền thống của dân tộc. Trong quá trình hiện thực hóa các mục tiêu này, Việt Nam có thể nghiên cứu một số định hướng cụ thể sau:

Trước hết, Việt Nam cần chuyển từ tư duy quảng bá từng sản phẩm văn hóa riêng lẻ sang xây dựng thương hiệu quốc gia dựa trên hệ giá trị văn hóa đặc trưng. Trong lĩnh vực ẩm thực, bên cạnh việc tiếp tục quảng bá các món ăn nổi tiếng như phở, bún chả hay bánh mì, cần xây dựng một câu chuyện chung về ẩm thực Việt Nam với những giá trị cốt lõi như sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên, tính đa dạng vùng miền, sự cân bằng dinh dưỡng, tri thức bản địa và tinh thần gắn kết cộng đồng. Đây sẽ là nền tảng để ẩm thực không chỉ được nhận diện như một sản phẩm tiêu dùng mà còn trở thành biểu tượng văn hóa phản ánh bản sắc dân tộc và hình ảnh đất nước.

Thứ hai, cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển trong xây dựng hệ sinh thái công nghiệp văn hóa. Đây cũng là định hướng được Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh khi yêu cầu tạo lập thể chế, chính sách và môi trường thuận lợi để các nguồn lực xã hội tham gia phát triển văn hóa [2]. Kinh nghiệm của Nhật Bản cho thấy hiệu quả rõ rệt của ngoại giao văn hóa ẩm thực không đến từ nỗ lực đơn lẻ của một ngành hay một doanh nghiệp, mà là kết quả của sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý, doanh nghiệp và cộng đồng. Đối với Việt Nam, việc triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW cần thúc đẩy cơ chế phối hợp đa tầng giữa Nhà nước (đóng vai trò dẫn dắt, tạo thể chế), doanh nghiệp (đóng vai trò động lực thị trường), địa phương, các hiệp hội nghề nghiệp, cộng đồng sáng tạo và người dân nhằm phát huy tổng lực các nguồn lực văn hóa.

Thứ ba, việc nâng cao chất lượng và xây dựng thương hiệu cho các không gian văn hóa Việt Nam ở nước ngoài là một hướng đi cần được quan tâm đầu tư bài bản. Trong tiến trình này, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đóng vai trò là chủ thể quan trọng và là cầu nối tự nhiên đưa ẩm thực Việt Nam tiếp cận công chúng quốc tế. Mỗi nhà hàng Việt Nam do người Việt Nam ở nước ngoài làm chủ có thể trở thành một không gian giới thiệu văn hóa sống động. Nhà nước cần xây dựng các chương trình hỗ trợ định hướng, cung cấp tài liệu quảng bá thống nhất, đào tạo nhân lực chuyên nghiệp, đồng thời hỗ trợ kết nối chuỗi cung ứng nguyên liệu, nông sản có xuất xứ Việt Nam và đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường sở tại. Việc từng bước hình thành hệ thống tiêu chí hoặc chứng nhận có uy tín sẽ góp phần nâng cao chất lượng và mức độ nhận diện của ẩm thực Việt Nam trên thị trường quốc tế.

Thứ tư, cần thúc đẩy sự liên kết chiến lược giữa ẩm thực với các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo khác. Trong thời đại kinh tế số, trải nghiệm văn hóa của công chúng không còn giới hạn trong không gian vật lý mà được mở rộng thông qua điện ảnh, truyền hình, âm nhạc, mạng xã hội và các nền tảng số. Việc lồng ghép quảng bá ẩm thực vào các tác phẩm điện ảnh, chương trình truyền hình, sự kiện du lịch, nghệ thuật biểu diễn hay thiết kế sáng tạo sẽ góp phần tạo nên một hệ sinh thái trải nghiệm đa dạng, nâng cao sức hấp dẫn và tối ưu hóa chuỗi giá trị của văn hóa Việt Nam đối với công chúng toàn cầu.

Sức mạnh của công nghiệp văn hóa không nằm ở việc khai thác riêng lẻ từng sản phẩm, mà ở khả năng hình thành định hướng phát triển thống nhất và cơ chế phối hợp đồng bộ, kết nối giữa bảo tồn và sáng tạo, giữa văn hóa và kinh tế, giữa nguồn lực trong nước với mạng lưới hợp tác quốc tế. Nếu được đầu tư phù hợp và triển khai hiệu quả, ẩm thực cùng nhiều loại hình văn hóa khác không chỉ có thể đóng góp vào tăng trưởng kinh tế mà còn trở thành phương tiện quảng bá hình ảnh Việt Nam, nâng cao sức mạnh mềm và vị thế quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

5.      Kết luận

Tinh thần của Nghị quyết số 80-NQ/TW cùng chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm về việc “từng bước chuyển mạnh tư duy từ quản lý văn hóa sang kiến tạo phát triển” đã khẳng định yêu cầu đổi mới sâu sắc cách tiếp cận đối với công nghiệp văn hóa trong giai đoạn mới [2]. Kinh nghiệm của Nhật Bản cho thấy, sự phát triển bền vững của công nghiệp văn hóa không chỉ đến từ việc sở hữu tài nguyên di sản đặc sắc mà còn từ khả năng xây dựng chiến lược dài hạn, phát huy vai trò kiến tạo của Nhà nước và huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội. Đối với Việt Nam, trong quá trình triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW, ẩm thực có nhiều tiềm năng để trở thành một lĩnh vực quan trọng của công nghiệp văn hóa, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, nâng cao sức mạnh mềm và năng lực cạnh tranh quốc gia trên trường quốc tế.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Báo Nhân Dân (2026), Phát triển công nghiệp văn hóa theo tinh thần Nghị quyết 80-NQ/TW: Thực trạng và giải pháp, https://nhandan.vn/phat-trien-cong-nghiep-van-hoa-theo-tinh-than-nghi-quyet-80-nqtw-thuc-trang-va-giai-phap-post967585.html (truy cập ngày 14/7/2026).

[2] Báo Quân đội nhân dân (2026), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: Từng bước chuyển mạnh tư duy từ quản lý văn hóa sang kiến tạo phát triển, https://www.qdnd.vn/chinh-tri/tin-tuc/tong-bi-thu-chu-tich-nuoc-to-lam-tung-buoc-chuyen-manh-tu-duy-tu-quan-ly-van-hoa-sang-kien-tao-phat-trien-1048938 (truy cập ngày 14/7/2026).

[3] UNESCO (2013), Washoku, Traditional Dietary Cultures of the Japanese, Notably for the Celebration of New Year, https://ich.unesco.org/en/RL/washoku-traditional-dietary-cultures-of-the-japanese-notably-for-the-celebration-of-new-year-00869.

[4] Cabinet Office, Government of Japan (2015), Cool Japan Strategy: Public-Private Collaboration Initiative, https://www.cao.go.jp/cool_japan/kaigi/senryakusuishin/pdf/20150617_initiative_honbun_e.pdf.

[5] Cwiertka, K.J. & Yasuhara, M. (2020), Branding Japanese Food: From Meibutsu to Washoku, University of Hawai'i Press, Honolulu.

[6] Ministry of Agriculture, Forestry and Fisheries of Japan (2025), Expansion of Japanese Restaurants Overseas, Japanese Restaurant News, Vol. 34, No. 315, https://alljapannews.com/uploads/2025/03/23/JRN202502-web.pdf.

 

Tin nổi bật
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1

CƠ QUAN CHỦ QUẢN: Viện Nghiên cứu Châu Á - Thái Bình Dương
Địa chỉ: Số 176 Thái Hà, Đống Đa, Hà Nội 
Email: iaps@iaps.org.vn
Ghi rõ nguồn: Cổng thông tin điện tử Viện Nghiên cứu Châu Á - Thái Bình Dương khi bạn phát hành lại thông tin từ Website này.

Website được thiết kế bởi VNPT