Người dân mua thực phẩm tại siêu thị ở Tokyo, Nhật Bản.
1. Thực trạng tăng giá thực phẩm tại Nhật Bản
Trong khoảng thời
gian tháng 9-10/2026, Nhật Bản tiếp tục ghi nhận làn sóng tăng giá thực phẩm và
đồ uống, làm gia tăng áp lực chi phí sinh hoạt đối với người dân. Theo báo cáo
của Công ty nghiên cứu tín dụng và thông tin doanh nghiệp Teikoku Databank công
bố ngày 30/9/2026; có 3.153 mặt hàng thực phẩm và đồ uống được thông báo tăng
giá trong tháng 10, với mức tăng bình quân khoảng 10% mỗi lần điều chỉnh. Đây
là tháng thứ hai liên tiếp số mặt hàng tăng giá vượt 3.000 mặt hàng, sau mức
4.965 mặt hàng trong tháng 9. Đây cũng là lần đầu tiên tình trạng này xuất hiện
kể từ hai tháng 6-7/2023 [2].
Tính đến thời điểm
công bố báo cáo, tổng số mặt hàng thực phẩm và đồ uống được xác định tăng giá
trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 12/2026 là 20.187 mặt hàng, đánh dấu năm
thứ hai liên tiếp con số này vượt mức 20.000 mặt hàng. Đáng chú ý, riêng tháng
9 và tháng 10 đã ghi nhận 8.118 mặt hàng tăng giá, chiếm khoảng 40% tổng số mặt
hàng được xác định trong cả năm [1]. Diễn biến này cho thấy hoạt động
điều chỉnh giá tập trung mạnh trong giai đoạn chuyển tiếp từ quý III sang quý
IV/2026. Việc tăng giá cũng diễn ra trên nhiều nhóm sản phẩm thiết yếu, nổi bật
là đồ uống, gia vị và thực phẩm chế biến, vốn được sử dụng thường xuyên trong đời
sống hằng ngày.
Dự báo về tháng
11/2026, tại thời điểm khảo sát, số mặt hàng tăng giá được xác nhận là 1.469 mặt
hàng, cao khoảng 10 lần so với cùng kỳ năm trước nhưng thấp hơn đáng kể so với
tháng 9 và tháng 10, cho thấy quy mô các đợt tăng giá được công bố có dấu hiệu
giảm sau khi đạt đỉnh trong tháng 9 và 10 này.
Hình1. Diễn biến số mặt
hàng tăng giá theo tháng tại Nhật Bản
Nguồn: Teikoku
Databank
2. Cơ cấu các nhóm thực
phẩm tăng giá
- Về nhóm những thực
phẩm tăng giá nhiều trong tháng 10
Xét theo nhóm sản phẩm, đồ uống và đồ uống
có cồn, (酒類飲料) đứng đầu về số mặt hàng tăng giá trong
tháng 10/2026, với 1.399 mặt hàng. Đây là lần đầu tiên kể từ tháng 10/2025 nhóm này trở lại vị trí dẫn
đầu. Các mặt hàng tăng giá khá đa dạng, bao gồm đồ uống có cồn như shochu, các
loại bia thuộc nhóm "bia loại ba" (第三のビール), cùng nhiều loại nước giải khát không cồn;
lý do của đợt tăng giá này có lẽ bắt nguồn từ việc điều chỉnh thuế đối với một
số sản phẩm rượu bia và đồ uống có cồn. Đứng thứ hai là nhóm gia vị, với 820 mặt
hàng tăng giá, chủ yếu gồm mayonnaise, nước tương và các loại nước xốt. Nhóm thực
phẩm chế biến xếp thứ ba, tập trung ở thực phẩm đóng hộp, thực phẩm đông lạnh,
thực phẩm bảo quản lạnh và thực phẩm dành cho trẻ nhỏ [2].
.- Về nhóm thực phẩm
tăng giá nhiều trong năm 2026
Xét cả năm 2026 theo từng lĩnh vực thực phẩm,
nhóm đứng đầu là Thực phẩm chế biến với 6.961 mặt hàng, chiếm tỷ lệ tăng giá là
15% trong năm 2026. Tiếp theo là gia vị với 6.250 mặt hàng (15%); đồ uống và đồ
uống có cồn với 3.309 mặt hàng (14%); bánh kẹo với 1.390 mặt hàng (12%). Các
nhóm còn lại gồm bánh mì với 1.178 mặt hàng (7%), nguyên liệu với 624 mặt hàng
(10%) và sản phẩm sữa với 475 mặt hàng (7%). So với năm 2025, số mặt hàng tăng
giá đã được xác định trong năm 2026 cao hơn ở bốn nhóm: thực phẩm chế biến, gia
vị, bánh kẹo và nguyên liệu. Trong đó, thực phẩm chế biến tăng từ 4.791 lên
6.961 mặt hàng, tương đương khoảng 45,3%; nguyên liệu tăng từ 441 lên 624 mặt
hàng, tương đương khoảng 41,5% [2].
Hình 2. Diễn biến tăng giá theo lĩnh vực
Nguồn: Teikoku Databank / Chú thích: Số mặt
hàng đã xác định trong giai đoạn từ t1-t12 tính đến thời điểm công bố cuối
tháng 9/2026
3. Nguyên nhân tăng giá thực phẩm
Thứ nhất, giá nguyên liệu và năng lượng
tăng do bất ổn quốc tế. Theo khảo sát của Teikoku Databank, 91,3% số mặt hàng
thực phẩm tăng giá có liên quan đến chi phí nguyên liệu, 63,8% liên quan đến
chi phí năng lượng và 27,8% liên quan đến tình hình Trung Đông. Bất ổn tại
Trung Đông làm gia tăng áp lực lên giá dầu thô và naphtha, kéo theo chi phí
nhiên liệu, năng lượng và vật liệu đóng gói tăng. Những biến động này khiến chi
phí đầu vào của doanh nghiệp thực phẩm tiếp tục tăng, tạo thêm áp lực lên giá bán
[3].
Thứ hai, đồng yên yếu làm tăng chi phí nhập
khẩu. Khi yên mất giá so với USD, doanh nghiệp phải bỏ ra nhiều yên hơn để mua
cùng một lượng nguyên liệu nhập khẩu. Báo cáo cũng chỉ ra rằng 8,1% số mặt hàng
tăng giá có liên quan đến đồng yên mất giá; tỷ giá duy trì trên mức 150 yên/USD
tiếp tục gây áp lực lên chi phí nhập khẩu. Theo trang Reuters đưa tin ngày
13/10 vừa qua, chỉ số giá nhập khẩu tính bằng yên của Nhật Bản trong tháng 9 đã
tăng 24,5% so với cùng kỳ năm trước [4], cho thấy đồng yên yếu đang khiến hàng
nhập khẩu đắt hơn, làm tăng chi phí đầu vào của doanh nghiệp Nhật Bản.
Thứ ba, chi phí nhân công và logistics
trong nước tiếp tục tăng gây áp lực lên giá thực phẩm. Theo BOJ, chi phí nhân
công tăng có thể được chuyển dần vào giá bán tại các khâu từ sản xuất, phân phối
đến bán lẻ; trong khi tình trạng thiếu lao động làm hạn chế năng lực cung ứng
và góp phần duy trì áp lực giá thực phẩm [5]. Về mảng logistics, khảo sát trong
tháng 8/2026 cho thấy 78,3% doanh nghiệp thực phẩm và đồ uống cho biết chịu ảnh
hưởng từ các vấn đề logistics. Trong số các doanh nghiệp bị ảnh hưởng, 74,5% gặp
khó khăn trong việc bảo đảm năng lực vận tải đường bộ [6]. BOJ cũng
ghi nhận chi phí dịch vụ vận tải hàng hóa đường bộ tháng 7/2026 tăng gần 6% so
với cùng kỳ năm trước [7]. Những số liệu này cho thấy chi phí nhân công và
logistics đóng góp vào nguyên nhân tiếp tục làm tăng giá thành sản phẩm.
4. Tác động của việc
tăng giá tới nền kinh tế Nhật Bản
Thứ nhất,
sức mua của hộ gia đình suy yếu: Theo Cục Thống kê Nhật Bản, trong tháng 8/2026, thu nhập
thực tế của các hộ gia đình người lao động giảm 0,9%, trong khi chi tiêu tiêu
dùng thực tế của các hộ gia đình có từ hai người trở lên giảm 3,1% so với cùng
kỳ năm trước, đánh dấu tháng giảm thứ chín liên tiếp [8]. Những số
liệu này cho thấy thu nhập và chi tiêu của hộ gia đình đều chịu sức ép. Khảo
sát của BOJ hôm 13/10 cho thấy 88,6% hộ gia đình tin là giá cả sẽ tiếp tục tăng
trong 12 tháng tới [9]. Khi lo ngại chi phí sinh hoạt còn tăng, người dân có
thể trở nên thận trọng hơn, ưu tiên các nhu cầu thiết yếu và cắt giảm những
khoản chi chưa thực sự cần thiết. Vì vậy, giá thực phẩm tăng không chỉ làm tăng
gánh nặng chi tiêu trước mắt mà còn có thể khiến nhu cầu mua sắm các hàng hóa
và dịch vụ khác suy giảm, qua đó làm sức mua của nền kinh tế suy yếu.
Thứ hai, doanh nghiệp chịu sức ép giảm lợi
nhuận và nguy cơ sụt giảm doanh số. Giá nguyên liệu, năng lượng, bao bì và vận
chuyển tăng khiến chi phí sản xuất cao hơn. Nếu tăng giá bán để bù đắp chi phí,
doanh nghiệp có nguy cơ mất khách hàng hoặc giảm lượng tiêu thụ do người dân
chuyển sang sản phẩm giá rẻ hơn. Ngược lại, nếu không thể tăng giá tương ứng,
doanh nghiệp phải tự gánh phần chi phí phát sinh, khiến lợi nhuận bị thu hẹp.
Thứ ba,
tăng giá tạo thêm sức ép đối với tăng trưởng kinh tế và chính sách tiền tệ. Khi các hộ gia đình thắt chặt chi
tiêu và doanh nghiệp phải đối mặt với chi phí cao, tiêu dùng và hoạt động kinh
doanh có thể bị ảnh hưởng, từ đó làm giảm động lực tăng trưởng. Theo dự báo của
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), tăng trưởng kinh tế Nhật Bản dự kiến giảm từ 1,2%
năm 2025 xuống 0,7% năm 2026; trong đó giá năng lượng cao và đồng yên yếu là
những yếu tố gây sức ép được đề cập. Bên cạnh đó, nếu giá cả tiếp tục tăng và
kỳ vọng lạm phát duy trì ở mức cao, BOJ sẽ gặp khó khăn hơn trong việc cân bằng
giữa kiểm soát lạm phát và hỗ trợ phục hồi kinh tế [10].
5. Một số
liên hệ với Việt Nam
Diễn biến tại Nhật Bản cho thấy giá
thực phẩm không chỉ chịu tác động của giá nguyên liệu mà còn phụ thuộc vào chi
phí năng lượng, tỷ giá, nhân công và vận chuyển. Với Việt Nam, vấn đề này cũng
đáng chú ý trong bối cảnh giá cả biến động có thể ảnh hưởng trực tiếp đến chi
phí sinh hoạt của người dân. Theo Cục Thống kê, CPI tháng 9/2026 của Việt Nam
tăng 5,08% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống
tăng 4,44%, riêng giá thực phẩm tăng 3,89% và dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng
7,4% [11]. Những số liệu này cho thấy cần theo dõi giá thực phẩm không chỉ ở
khâu bán lẻ mà còn từ các yếu tố hình thành giá trong quá trình sản xuất và
phân phối.
Trước hết, việc theo dõi giá cả cần gắn với
diễn biến chi phí đầu vào. Nếu chỉ quan sát giá bán khi hàng hóa đã tăng giá,
cơ quan quản lý sẽ khó nhận diện sớm nguyên nhân và chủ động ứng phó. Việc cập
nhật thường xuyên giá nguyên liệu, nhiên liệu, bao bì, vận chuyển và tỷ giá sẽ
giúp phát hiện những yếu tố có thể đẩy giá thực phẩm lên cao, từ đó có phương
án xử lý phù hợp trước khi tác động lan rộng đến người tiêu dùng.
Một
vấn đề khác là bảo đảm nguồn cung và giảm chi phí đưa thực phẩm đến thị trường.
Chi phí vận chuyển, bảo quản và phân phối cao có thể làm tăng giá bán ngay cả
khi nguồn cung hàng hóa không thiếu. Vì vậy, Việt Nam cần chú trọng hơn đến
liên kết giữa sản xuất nông nghiệp, chế biến và phân phối; đồng thời cải thiện
hệ thống logistics và khả năng dự trữ các mặt hàng thiết yếu. Bộ Công Thương
cũng đề cập đến việc đa dạng hóa nguồn nhập khẩu, phát triển logistics lạnh và
bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu trong các nhiệm vụ quý IV/2026 [12].
Đây là những giải pháp có ý nghĩa không chỉ khi giá cả tăng mà còn giúp thị trường
ứng phó tốt hơn trước nguy cơ gián đoạn nguồn cung.
Bên cạnh đó, điều hành giá cần tính đến khả
năng chi trả của người dân và sức chống chịu của doanh nghiệp. Khi giá thực phẩm
tăng nhanh hơn thu nhập, các hộ gia đình thu nhập thấp thường chịu ảnh hưởng lớn
hơn vì phần lớn ngân sách của họ dành cho những nhu cầu thiết yếu. Trong trường
hợp cần thiết, các biện pháp hỗ trợ nên hướng đến đúng nhóm chịu tác động, đồng
thời bảo đảm nguồn hàng và minh bạch thông tin giá cả. Đối với doanh nghiệp, việc
giảm chi phí lưu thông, nâng cao hiệu quả phân phối và chủ động nguồn nguyên liệu
sẽ có ý nghĩa lâu dài hơn so với chỉ yêu cầu giữ giá bán trong ngắn hạn.
Nhìn chung, kinh nghiệm của Nhật Bản gợi ý
rằng muốn hạn chế tác động của tăng giá thực phẩm cần xử lý đồng thời các vấn đề
về nguồn cung, chi phí sản xuất phân phối và sức mua của người dân. Đối với Việt
Nam, theo dõi sớm biến động chi phí, cải thiện hệ thống cung ứng và hỗ trợ có
trọng tâm các nhóm dễ bị tổn thương sẽ góp phần hạn chế áp lực lên chi phí sinh
hoạt, đồng thời duy trì sự ổn định của thị trường.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Kyodo News. (2026). Japan to face price hikes on over
3,000 food items in October. https://english.kyodonews.net/articles/-/86759
[2] Teikoku Databank. (2026). (食品主要195社) 価格改定動向調査 ― 2026年10月 (Khảo sát xu hướng điều chỉnh giá của 195 doanh nghiệp thực
phẩm chủ yếu – Tháng 10/2026). https://www.tdb.co.jp/resource/files/assets/d4b8e8ee91d1489c9a2abd23a4bb5219/b2b75b5977a7415c8bfa21a192373019/20260930_%E4%BE%A1%E6%A0%BC%E6%94%B9%E5%AE%9A%E5%8B%95%E5%90%91%E8%AA%BF%E6%9F%BB%EF%BC%882026%E5%B9%B410%E6%9C%88%EF%BC%89.pdf
[3] Ministry
of Economy, Trade and Industry. (2026). 2026年7月、8月及び9月使用分の電気・ガス料金支援 (Hỗ trợ giá điện và khí đốt cho
lượng tiêu thụ tháng 7–9/2026). https://www.meti.go.jp/press/2026/06/20260612003/20260612003.html
[4] Kihara,
L. (2026). Japan's wholesale inflation remains elevated, keeps alive BOJ
rate-hike view. Reuters. https://www.reuters.com/world/asia-pacific/japans-wholesale-inflation-remains-elevated-keeps-alive-boj-rate-hike-view-2026-10-13/
[5] Bank of
Japan. (2026). Speech by Board Member TAMURA at a Meeting Held by the Kanagawa
Keizai Doyukai (Economic Activity, Prices, and Monetary Policy in Japan). https://www.boj.or.jp/en/about/press/koen_2026/ko260213a.htm
[6] LNEWS.
(2026). NX Research Institute: Impact of the 2024 Problem Shows Improvement,
but 64.4% Say Securing Truck Transport Capacity Will Be “Difficult”. https://en.lnews.jp/2026/08/s0818705.html
[7] Bank of
Japan. (2026). Economic Activity, Prices, and Monetary Policy in Japan. https://www.boj.or.jp/en/about/press/koen_2026/ko260910a.htm
[8]
Statistics Bureau of Japan. (2026). Summary of the Latest Month on Family
Income and Expenditure Survey: August 2026. https://www.stat.go.jp/english/data/kakei/156.htm
[9] Reuters.
(2026). 88.6% of Japan households expect prices to rise a year from now, BOJ
says. https://www.reuters.com/world/asia-pacific/886-japan-households-expect-prices-rise-year-now-boj-says-2026-10-13/
[10] Kihara,
L. (2026). IMF expects gradual BOJ rate hike towards neutral setting. Reuters. https://www.reuters.com/world/asia-pacific/imf-expects-gradual-boj-rate-hike-towards-neutral-setting-2026-10-13/
[11] Cục
Thống kê. (2026). Thông cáo báo chí về tình hình giá tháng Chín, quý III và 9
tháng năm 2026. https://www.nso.gov.vn/tin-tuc-thong-ke/2026/10/thong-cao-bao-chi-ve-tinh-hinh-gia-thang-chin-quy-iii-va-9-thang-nam-2026/
[12] Bộ Công Thương. (2026). Bộ Công
Thương họp báo thường kỳ Quý III/2026. https://moit.gov.vn/tin-tuc/bo-cong-thuong-hop-bao-thuong-ky-quy-iii-2026.html
ThS. Phạm Thu Thủy
Trung tâm Nghiên cứu Nhật Bản