Quỹ mẹ và công tác hỗ trợ tài chính cho ngành công nghiệp văn hoá ở Hàn Quốc
1.
Đặt vấn đề
Trong gần ba thập niên qua, ngành công nghiệp văn hóa của Hàn Quốc đã khẳng định
vị thế là ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao,là đòn bẩy gia tăng thương hiệu
quốc gia và sức mạnh mềm cho Hàn Quốc. Tuy nhiên, thực trạng phát triển
của ngành vẫn đối mặt với những thách thức nội tại về cấu trúc nguồn vốn và quy
mô doanh nghiệp.
Do đặc thù của ngành công nghiệp văn hoá, các sản phẩm đầu ra (sản phẩm văn hoá) đều tồn tại dưới dạng “vô hình”, rủi ro thất bại
trong phân phối cao nên
các doanh nghiệp rất khó tiếp cận vốn từ các tổ chức tài chính truyền thống. Đáng chú
ý, cấu trúc ngành vẫn đang ở tình trạng thiếu cân đối, ngoài một số các doanh nghiệp lớn như SM Entertainment, YG Entertainment và JYP
Entertainment, phần lớn các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công
nghiệp văn hóa của Hàn Quốc là doanh nghiệp vừa và nhỏ, chưa niêm yết, cơ cấu tài chính của
các doanh nghiệp này thường yếu vì lợi nhuận có được đều từ việc thực hiện các
dự án [1]. Năm 2021, nếu xét theo cơ cấu doanh nghiệp thì có 88,3% trong số 109
nghìn doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp văn hoá có doanh thu dưới
1 tỷ won, còn xét theo quy mô lao động thì 92,3% doanh nghiệp có số lượng nhân
viên dưới 10 người[2], điều này khiến việc tìm kiếm các cơ hội đầu tư hay huy động
vốn gặp rất nhiều khó khăn. Do vậy, để các doanh nghiệp này phát triển thành
doanh nghiệp tầm trung thì việc đảm bảo nguồn vốn vững chắc thông qua sự hỗ trợ
tài chính phù hợp là điều cần thiết. Bởi cùng với các yếu tố như cơ sở hạ tầng,
nguồn nhân lực, tài chính giữ vai trò vô cùng quan trọng trong sự phát triển bền
vững của các doanh nghiệp công nghiệp văn hóa nói riêng và ngành công nghiệp
văn hóa nói chung.
Với mục tiêu đưa ngành công nghiệp văn hóa trở thành một ngành công nghiệp
mũi nhọn đưa Hàn Quốc trở thành
cường quốc văn hóa trên thế giới, kể từ đầu
thập niên 2000, Chính phủ Hàn Quốc đã triển khai thực hiện
nhiều chính sách khác nhau nhằm
thúc đẩy ngành công nghiệp văn hóa phát triển bền vững, có tính cạnh tranh cao. Chính phủ Hàn Quốc qua các thời kỳ đã tập
trung xây dựng một hệ thống tài chính vững chắc, linh hoạt, là yếu tố then chốt
để đảm bảo sự phát triển bền vững và gia tăng sức cạnh tranh dài hạn cho ngành công nghiệp
văn hoá. Một
trong những biện pháp hỗ trợ tài chính được nghiên cứu, lựa chọn là thành lập
quỹ con đầu tư vào ngành công nghiệp văn hoá trong hệ thống Quỹ mẹ (Fund of
funds).
2.
Quỹ mẹ và cơ chế vận hành
Quỹ mẹ (Fund of funds) là một quỹ
đầu tư góp vốn chung, chuyên đầu tư vào các loại quỹ
khác. Quỹ được thành lập từ việc nhận các khoản đầu tư từ nhà đầu tư
(bên góp vốn), sau đó từ quỹ này sẽ triển khai đầu tư vào các quỹ riêng lẻ (quỹ
con hoặc tổ hợp đầu tư). Hình thức đầu tư này là nhà đầu tư không đầu tư trực
tiếp vào các doanh nghiệp hoặc dự án mà góp vốn vào các quỹ riêng lẻ thông qua
các tổ chức đầu tư chuyên nghiệp. Đây là hình thức đầu tư vừa giúp nhà đầu tư
thu được lợi nhuận vừa giảm thiểu rủi ro khi đầu tư trực tiếp.
Blackpink trong đêm diễn tại Los Angeles (Mỹ) trước gần 47.000 khán giả,
tháng 11/2022 (Ảnh YG
Entertainment), Nguồn:
https://vnexpress.net/blackpink-kiem-tram-trieu-usd-chi-voi-mot-tour-dien-4622734.html
Cũng như các nước phát triển
khác, tại Hàn Quốc, quỹ mẹ được định hình như một loại quỹ phục vụ phát triển
ngành công nghiệp, trong đó chính phủ đóng vai trò chủ thể thực hiện góp vốn
vào các tổ hợp đầu tư. Quỹ mẹ được thành lập
tháng 4 năm 2005 theo khoản 2 điều 4 của Luật Đặc biệt về thúc đẩy doanh nghiệp
khởi nghiệp (Luật số 12927), thời gian hoạt động của quỹ là 30 năm (2005-2030).
Vốn góp của chính phủ vào quỹ thông qua các cơ quan như Bộ Văn hoá Thể thao và
Du lịch, Bộ Doanh nghiệp vừa và nhỏ và Khởi nghiệp…, góp vốn theo từng mục đích
sử dụng căn cứ vào mục tiêu chính sách hàng năm của từng cơ quan. Về lĩnh vực
góp vốn, quỹ mẹ được hình thành từ 18
tài khoản thuộc các lĩnh vực khác nhau, tương ứng với phạm vi
quản lý của 13 bộ, cơ quan chính phủ
với tư cách là các chủ thể góp vốn[3]. Về cơ cấu vận hành tổng thể, Bộ Doanh nghiệp vừa và nhỏ và Khởi
nghiệp chịu trách nhiệm quản lý chung hoạt động của quỹ mẹ, các bộ, cơ quan chủ
quản riêng lẻ thực hiện góp vốn để hình thành các quỹ, cơ quan chuyên môn là
Công ty đầu tư mạo hiểm Hàn Quốc (KVI) đưa ra quyết định về hoạt động góp vốn dựa
trên định hướng chính sách của các cơ qua chủ quản [4].
Trong hệ thống quỹ mẹ, có hai tài
khoản chuyên biệt dành cho việc thành lập các quỹ con đầu tư chuyên sâu vào
ngành công nghiệp văn hoá là tài khoản văn hóa (do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
quản lý) và tài khoản điện ảnh
(do Hội đồng điện ảnh Hàn Quốc KOFIC phối hợp với Công ty đầu tư mạo hiểm Hàn
Quốc hợp danh điều hành)[5]. Trong đó, tài khoản văn hoá thuộc quỹ mẹ là một
trong những cơ chế hỗ trợ tài chính tiêu biểu cho ngành công nghiệp văn
hoá của Hàn Quốc. Trong thực tế, trước khi thành lập tài khoản văn hoá thuộc quỹ
mẹ, chính phủ nước này đã thành lập Quỹ phát triển công nghiệp văn hoá từ năm
1999. Trước khi bị bãi bỏ vào năm 2004 và tích hợp vào quỹ mẹ từ năm 2006, Quỹ
phát triển công nghiệp văn hoá đã giữ vai trò hạt nhân trong việc hỗ trợ ngành
công nghiệp văn hoá.
Quy trình vận hành của tài khoản
văn hoá thuộc quỹ mẹ gồm các bước như sau: (1) xây dựng kế hoạch vận hành và
lập dự toán ngân sách, (2) công bố lĩnh vực góp vốn và quỹ con, (3) lựa chọn đơn
vị vận hành (4) xây dựng kế hoạch vận hành liên quan đến quỹ con, (5) tiến hành
đầu tư. Hàng năm, Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch công bố các lĩnh vực góp vốn
và ngân sách sau khi xây dựng kế hoạch vận hành tài khoản văn hoá thuộc quỹ mẹ.
Công ty đầu tư mạo hiểm Hàn Quốc căn cứ vào kế hoạch vận hành quỹ để xây dựng
các lĩnh vực góp vốn, tiến hành quy trình đánh giá và lựa chọn đơn vị vận hành
quỹ con. Các đơn vị vận hành quỹ con được lựa chọn xây dựng kế hoạch vận hành
quỹ con theo lĩnh vực đầu tư trọng điểm tiến hành huy động vốn đầu tư và hoàn
thành mục tiêu về quy mô vốn huy động, sau đó triển khai các hoạt động đầu tư
và quản lý quỹ. Khi hoạt động đầu tư của quỹ kết thúc, Công ty đầu tư mạo hiểm
Hàn Quốc dựa trên các chỉ số hiệu quả hoạt động và hệ thống quản lý tiến hành
đánh giá kết quả [5].
3.
Một số thành tựu trong
quá trình triển khai
Giai đoạn 2006-2022, Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch Hàn Quốc đã góp mới tổng
cộng 1.035,7 tỷ won vốn mồi vào tài khoản văn hoá thuộc Quỹ mẹ. Cơ chế này đã tạo
hiệu ứng đòn bẩy tài chính thu hút các nhà đầu tư tham gia hình thành các quỹ đầu
tư mạo hiểm với tổng quy mô vốn huy động lên đến 2.884,7 tỷ won[6]. Tính luỹ kế
giai đoạn 2006-2024, Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch Hàn Quốc đã thực hiện góp tổng
cộng 1.971,6 tỷ won vốn mồi vào tài khoản văn hoá thuộc Quỹ mẹ. Nguồn vốn ngân
sách này đã thu hút thành công dòng vốn đối ứng, nâng tổng quy mô quỹ huy động
lên 3.992,4 tỷ won với giá trị vốn đầu tư thực tế đạt 3.570,4 tỷ won[7].
Năm 2022, Bộ đã góp 164,1 tỷ won
thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm và quỹ phim truyền hình với quy mô 248,8 tỷ won,
tập trung vào việc đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ (IP) cho các doanh nghiệp sản
xuất và đảm bảo nguồn tài trợ cho ngành công nghiệp phim truyền hình trong 2
lĩnh vực: (1) quỹ đầu tư mạo hiểm đầu tư tập trung vào giai đoạn đầu của quá
trình sản xuất và các lĩnh vực ít được quan tâm; (2) quỹ phim truyền hình đầu
tư vào các dự án sản xuất phim truyền hình và các doanh nghiệp vừa và nhỏ,
doanh nghiệp đầu tư mạo hiểm liên quan nhằm mục đích phân phối và phát sóng
trên nền tảng OTT[6]. Năm 2023, để đạt mức vốn quỹ tổng trị giá 422,1 tỷ won
cho việc thành lập các quỹ đầu tư mới theo kế hoạch đã xây dựng, Bộ Văn hoá Thể thao và Du lịch thực hiện
góp 210 tỷ won với mục tiêu đảm bảo nguồn vốn cho doanh nghiệp công nghiệp
văn hóa trong 6 lĩnh vực: (1) quỹ K-M&A, đầu tư vào hoạt động sáp nhập và
mua lại; (2) quỹ K-unicorn, đầu tư vào các doanh nghiệp khởi nghiệp và doanh
nghiệp của thanh niên; (3) quỹ K-value dựa trên việc đánh giá giá trị sản phẩm
văn hóa; (4) quỹ K- Cultural Symbiosis (cộng sinh văn hóa) đầu tư vào các lĩnh
vực chưa được quan tâm; (5) quỹ K-culture General đầu tư vào toàn bộ ngành công
nghiệp văn hóa với mục tiêu gia tăng lợi nhuận; (6) quỹ K-content IP đầu tư vào
việc bảo vệ IP cho các công ty sản xuất [8]. Riêng trong năm 2024, Bộ Văn hoá
Thể thao và Du lịch đã góp 350 tỷ
won (gồm 270 tỷ won vốn góp mới và 80 tỷ won tái góp vốn) với mục tiêu cung cấp
630 tỷ won vốn cho việc thành lập các quỹ đầu tư mới. Nguồn vốn này đã
được phân bổ thành lập 5 quỹ con tương ứng với 5 lĩnh vực trọng điểm nhằm tăng
cường cung cấp nguồn vốn, nâng cao năng lực cạnh tranh, đồng thời thúc đẩy sự
tăng trưởng bền vững của ngành công nghiệp văn hoá của Hàn Quốc. 5 Quỹ con này
gồm:
-
Quỹ IP: Đầu tư nhằm giúp các doanh nghiệp sản xuất công
nghiệp văn hoá sở hữu và tích luỹ tài sản sở hữu trí tuệ (IP)
-
Quỹ xuất khẩu: Đầu tư hỗ trợ xuất khẩu sản phẩm công nghiệp
văn hoá ra thị trường quốc tế
-
Quỹ công nghệ mới: Hỗ trợ phát triển công nghiệp văn hoá ứng
dụng các công nghệ số và công nghệ mới
-
Quỹ M&A và quỹ thị trường thứ cấp: Thúc đẩy các hoạt
động mua lại và sáp nhập (M&A) và mua lại doanh nghiệp (buyout)
-
Quỹ văn hoá tổng hợp: Mở rộng phạm vi đầu tư sang tất cả
các lĩnh vực của ngành công nghiệp văn hoá [7].
4.
Nhận xét và liên hệ với
Việt Nam
Tài khoản
văn hóa trong quỹ mẹ ở Hàn Quốc không chỉ đảm bảo sự đa dạng hóa danh mục đầu
tư mà còn thúc đẩy việc mở rộng sang các lĩnh vực mới, giúp giảm thiểu rủi ro từ
việc tập trung vốn quá mức, đồng thời gia tăng tỷ trọng đầu tư cổ phần vào các
doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp văn hóa.
Đặc biệt, khi cơ cấu ngành công
nghiệp chuyển đổi theo hướng lấy các ngành nền tảng kỹ thuật số làm trung tâm,
quỹ đã bắt đầu thành lập các quỹ con hướng đến mục tiêu phát triển tài sản trí
tuệ có năng lực cạnh tranh và nuôi dưỡng các doanh nghiệp khởi nghiệp kể từ sau
năm 2020. Điều này cho thấy sự linh hoạt trong việc quản lý, vận hành tài khoản
văn hoá trong quỹ mẹ theo định hướng chính sách đầu tư của ngành công nghiệp
văn hoá. Bên cạnh đó, Chính phủ Hàn Quốc nỗ lực lành mạnh hóa hệ
sinh thái công nghiệp văn hóa bằng cách thắt chặt điều kiện đầu tư. Các hành vi
giao dịch thiếu công bằng sẽ bị loại bỏ, tiêu biểu như việc cấm rót vốn vào
doanh nghiệp nợ lương hay cấm các phương thức đầu tư qua bảo lãnh vốn.
Chính sách hỗ trợ tài chính thông qua tài khoản
văn hoá thuộc quỹ mẹ của Hàn Quốc đã chuyển đổi từ hỗ trợ dàn trải sang đầu tư
có trọng điểm và chuyên sâu vào chuỗi giá trị (từ sản xuất, bảo vệ quyền sở hữu
trí tuệ đến sáp nhập/mua lại). Hệ
thống này đã tạo ra một hệ sinh thái tài chính linh hoạt, giải quyết “điểm nghẽn”
về tiếp cận vốn, cho phép các doanh nghiệp vừa và nhỏ vốn chiếm đa số trong
ngành có cơ hội tiếp cận vốn vay và đầu tư, từ đó củng cố năng lực cạnh tranh
toàn cầu cho văn hóa Hàn Quốc.
Mô hình hỗ trợ tài chính qua quỹ
mẹ của Hàn Quốc mang lại cho Việt Nam một số gợi mở thiết thực trong bối cảnh
ngành công nghiệp văn hóa trong nước cũng đang đối mặt với những thách thức
tương tự về quy mô doanh nghiệp và rào cản tiếp cận nguồn vốn truyền thống. Nhận
thức rõ vai trò chiến lược của nguồn lực tài chính, bám sát tinh thần của Nghị
quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển công nghiệp văn hóa và Nghị quyết
số 28/2026/QH16 về phát triển văn hóa Việt Nam, Quốc hội đã cho phép thí điểm
thành lập Quỹ văn hóa, nghệ thuật từ trung ương đến địa phương. Tương tự kinh
nghiệm từ Quỹ mẹ của Hàn Quốc, Quỹ văn hóa, nghệ thuật của Việt Nam được định
hướng vận hành như một quỹ đầu tư mạo hiểm, kết hợp giữa ngân sách nhà nước với
các nguồn lực xã hội, như vậy sẽ tối ưu hóa hiệu quả nguồn vốn công và thu hút
dòng vốn tư nhân vào lĩnh vực văn hóa. Đồng thời, quỹ cũng sẽ góp phần thúc đẩy
hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, tạo bệ phóng cho các dự án đổi mới, doanh nghiệp
khởi nghiệp trong lĩnh vực văn hóa, tài trợ cho các sản phẩm nghệ thuật có giá
trị cao, tạo động lực bứt phá để ngành công nghiệp văn hóa trở thành một trong
những ngành kinh tế mũi nhọn trong giai đoạn mới.
Phan Thị Oanh – Trung
tâm Nghiên cứu Hàn Quốc và Triều Tiên
Tài liệu tham khảo:
1.
황준석 (2013), ‘한국 스타일’ 창조하는 문화콘텐츠산업 (Hwang Joon-seok, Ngành công
nghiệp văn hóa sáng tạo nên “Phong cách Hàn Quốc”), https://eiec.kdi.re.kr/publish/naraView.do?fcode=00002000040000100001&cidx=885
3. 한국벤처투자(2022), ESG 벤처투자 표준 가이드라인, http://www.kvic.ỏ.kr>fileDown
4.
양지훈
외 (2023), 콘텐츠 산업
투자 필요분야 도출을 통한 모태편드 문화계정 개선 방안 연구, 문화정책논총 2023 제37집 3호 (Yang Ji-hoon cộng sư, Nghiên cứu phương án cải
tiến tài khoản văn hóa của quỹ mẹ thông qua việc xác định các lĩnh vực cần đầu
tư trong ngành công nghiệp văn hóa, Tạp chí Chính sách văn hóa số 3 tập 37 năm
2023), DOI: https://doi.org/10.16937/jcp.2023.37.3.5
5.
영화진흥위원회, 영상전문투자조합 운용현황 (Hội đồng điện ảnh Hàn Quốc, Tình hình hoạt động
của các quỹ đầu tư chuyên nghiệp trong lĩnh vực điện ảnh), https://www.kofic.or.kr/
kofic/business/guid/introVideoInvestment.do