Chính sách môi trường gắn với tái cấu trúc công nghiệp ở Hàn Quốc và liên hệ với Việt Nam
Mở đầu
Ngày 14/7/2020, Chính
phủ Hàn Quốc công bố “Kế hoạch tổng thể về chính sách kinh tế mới” (hay còn gọi
là Thỏa thuận mới của Hàn Quốc/Chính sách mới của Hàn Quốc-한국판뉴딜-Korean New Deal). Chính
phủ nước này xác định 10 nhiệm vụ tiêu biểu, trong đó, xây dựng và phát triển
khu công nghiệp xanh-thông minh (Khu công nghiệp xanh-thông minh ) (스마트그린산업단지- Smart
Green Industrial Complex - SGIC) là một nhiệm vụ thuộc nhóm hội tụ kỹ thuật số
và xanh. Sau hơn hai tháng, ngày 17/9/2020, chiến lược triển khai SGIC chính
thức được công bố. Đến tháng 12/2020, khái niệm và cơ chế
chỉ được thể chế hóa trong Luật về thúc đẩy tập trung công nghiệp và thành lập
nhà máy.
Lộ trình này thể hiện cách tiếp cận chính sách môi trường ở Hàn Quốc theo
chuỗi: thí điểm công nghệ, đặt mục tiêu chương trình, sửa đổi pháp luật và tổ
chức triển khai.
Xây dựng và phát triển khu công
nghiệp xanh-thông minh ở Hàn Quốc
SGIC
được xây dựng trên ba trụ cột. Trụ cột số hóa cho phép thu thập dữ liệu sản
xuất, năng lượng, logistics và môi trường, hỗ trợ giám sát theo thời gian thực
và phát hiện bất thường. Trụ cột năng lượng hướng đến hiệu suất cao hơn, quản
lý nhu cầu, tăng khả năng sử dụng năng lượng sạch và giảm phụ thuộc vào nguồn
năng lượng phát thải cao. Trụ cột môi trường thúc đẩy giảm ô nhiễm, tuần hoàn
tài nguyên, cải thiện điều kiện làm việc và phát triển hạ tầng xanh. Các trụ
cột này hỗ trợ lẫn nhau: dữ liệu giúp xác định cơ hội tiết kiệm năng lượng;
hiệu quả năng lượng làm giảm chi phí và phát thải; cộng sinh công nghiệp giảm
lượng nguyên liệu đầu vào và chất thải đầu ra.
Một
ưu điểm của cách tiếp cận cấp khu là các doanh nghiệp không phải tự mình giải
quyết mọi vấn đề. Hệ thống xử lý nước thải tập trung, quan trắc môi trường, hạ
tầng năng lượng, logistics, nền tảng dữ liệu và các cơ chế trao đổi phụ phẩm có
thể được tổ chức ở quy mô dùng chung. Tuy nhiên, hạ tầng tập trung chỉ hiệu quả
khi được vận hành đúng công suất, có cơ chế giám sát độc lập, dữ liệu minh bạch
và trách nhiệm rõ ràng của chủ đầu tư cũng như doanh nghiệp.
Khu công nghiệp xanh-thông minh Saemangeum (Saemangeum Smart
Green Industrial Complex, 새만금
스마트그린 국가산업단지) ở Hàn Quốc
Nguồn:
https://www.investkorea.org/ik-en/bbs/i-5045/detail.do?ntt_sn=490759
Quá
trình hình thành và phát triển SGIC tại Hàn Quốc cho thấy mô hình này hình
thành trong bối cảnh nhiều khu công nghiệp lâu đời phải đối mặt với hạ tầng
xuống cấp, hiệu suất năng lượng thấp và áp lực phát thải. Các khu công nghiệp
giữ vai trò lớn trong sản xuất và xuất khẩu, vì vậy chuyển đổi môi trường không
chỉ là nhiệm vụ tuân thủ mà còn liên quan trực tiếp đến năng suất, khả năng
cạnh tranh và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn thương mại xanh.
Tình hình môi trường và rủi ro khí
hậu tại Việt Nam
Việt
Nam chịu tác động đáng kể từ biến đổi khí hậu do có đường bờ biển dài, các đô
thị và vùng sản xuất nằm ở khu vực thấp trũng, cùng sự phụ thuộc của nhiều
ngành kinh tế vào tài nguyên thiên nhiên. Báo cáo Khí hậu và Phát triển Quốc
gia Việt Nam của Ngân hàng Thế giới ước tính tác động của biến đổi khí hậu gây
thiệt hại khoảng 10 tỷ USD, tương đương 3,2% GDP, trong năm 2020. Báo cáo cảnh
báo tổn thất có thể tăng lên đáng kể nếu không tăng cường thích ứng và giảm
phát thải.
Các con số này là ước tính theo mô hình và năm tham chiếu cụ thể, không nên
diễn giải thành mức thiệt hại thường niên cố định.
Rủi
ro khí hậu đối với công nghiệp thể hiện ở nhiều dạng: ngập lụt làm gián đoạn
đường vận tải và chuỗi cung ứng; nắng nóng làm tăng nhu cầu làm mát và nguy cơ
sức khỏe nghề nghiệp; hạn hán và xâm nhập mặn gây áp lực lên nguồn nước; bão và
thời tiết cực đoan ảnh hưởng tới điện, cảng và kho bãi. Vì vậy, kế hoạch chuyển
đổi khu công nghiệp cần kết hợp giảm phát thải với đánh giá rủi ro khí hậu và
kế hoạch duy trì hoạt động.
Về
ô nhiễm công nghiệp, tình hình giữa các địa phương và khu công nghiệp không
đồng nhất. Một số khu đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải tập trung và quan
trắc tự động; chẳng hạn, thông tin của Cục Môi trường về Vĩnh Long cho biết hai
khu công nghiệp đang hoạt động tại địa phương đã có nhà máy xử lý nước thải tập
trung, với công suất tổng cộng 9.100 m³/ngày đêm, và lượng nước thải phát sinh
được thu gom, xử lý theo quy định.
Đây là ví dụ tại một địa phương, không thể suy rộng thành tình trạng của tất cả
khu công nghiệp trên toàn quốc.
Các
chỉ tiêu môi trường quốc gia từng đặt mục tiêu nâng tỷ lệ khu công nghiệp, khu
chế xuất có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn lên 100% trong
giai đoạn 2026–2030; đồng thời đặt mục tiêu 100% cụm công nghiệp có hệ thống xử
lý nước thải tập trung vận hành đạt quy chuẩn vào giai đoạn này.
Những mục tiêu này cho thấy trọng tâm chính sách không chỉ là xây dựng công
trình, mà còn là bảo đảm công trình vận hành đúng chuẩn, có giám sát liên tục
và xử lý vi phạm khi cần thiết.
Một
thách thức khác là dữ liệu môi trường thường được thu thập theo từng nguồn thải
hoặc từng địa phương, trong khi ô nhiễm không khí và nước có thể lan truyền qua
ranh giới hành chính. Nếu không có cơ chế chia sẻ dữ liệu, đánh giá tải lượng
cộng dồn và phối hợp liên vùng, cơ quan quản lý có thể xử lý từng cơ sở nhưng
vẫn khó giải quyết vấn đề chất lượng môi trường ở quy mô lưu vực hoặc vùng đô
thị-công nghiệp. Kết luận 75-KL/TW, theo phần giới thiệu và trao đổi của Cục
trưởng Cục Môi trường, đặt ra hướng quản lý theo vùng, lưu vực sông và không
gian môi trường, kết hợp kiểm soát từng nguồn thải với tổng tải lượng ô nhiễm.
Kết hợp khu công nghiệp sinh thái
với công cụ xanh - thông minh ở Việt Nam
Đối
với Việt Nam, không nhất thiết phải lựa chọn giữa khu công nghiệp sinh thái và
khu công nghiệp xanh- thông minh. Hai cách tiếp cận có thể bổ sung cho nhau.
Khu công nghiệp sinh thái cung cấp nền tảng về sản xuất sạch hơn, sử dụng hiệu
quả tài nguyên và cộng sinh công nghiệp; SGIC gợi ý bổ sung số hóa, quản lý
năng lượng và hạ tầng thông minh vào chương trình chuyển đổi. Nghị định
35/2022/NĐ-CP là một cơ sở pháp lý quan trọng về quản lý khu công nghiệp và khu
kinh tế.
Một
mô hình tích hợp có thể bắt đầu bằng kiểm kê dòng vật chất và năng lượng: doanh
nghiệp sử dụng loại nguyên liệu nào, tiêu thụ bao nhiêu nước và điện, phát sinh
chất thải gì, phần nào có thể tái sử dụng và phần nào cần xử lý. Sau đó, nền
tảng số của khu công nghiệp có thể kết nối dữ liệu đã được chuẩn hóa, phát hiện
bất thường, hỗ trợ dự báo nhu cầu hạ tầng và lập kế hoạch đầu tư. Việc trao đổi
phụ phẩm cần dựa trên kiểm định chất lượng, quy định an toàn và hợp đồng rõ
ràng, tránh xem mọi chất thải là nguyên liệu có thể tái sử dụng.
Với
năng lượng, các khu công nghiệp có thể triển khai kiểm toán năng lượng, hệ
thống quản lý năng lượng nhà máy, quản lý phụ tải và giải pháp tiết kiệm điện.
Các phương án điện mặt trời mái nhà, lưu trữ hoặc hợp đồng mua bán điện cần
được xem xét theo quy định hiện hành, điều kiện kỹ thuật và khả năng của lưới
điện. Chỉ tiêu nên đo bằng cường độ năng lượng trên đơn vị sản phẩm và lượng
phát thải thực tế, thay vì chỉ đếm số dự án hoặc công suất lắp đặt.
Với
nước và chất thải, ưu tiên đầu tiên là bảo đảm thu gom và xử lý đạt quy chuẩn,
giám sát vận hành và xử lý sự cố. Sau khi bảo đảm tuân thủ, khu công nghiệp có
thể tăng tái sử dụng nước đã xử lý phù hợp, thu hồi vật liệu, phân loại chất
thải tại nguồn và kết nối các doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng phụ phẩm. Các
giải pháp tuần hoàn không được làm giảm tiêu chuẩn an toàn hoặc chuyển ô nhiễm
từ môi trường này sang môi trường khác.
Kết luận
Kinh
nghiệm Hàn Quốc trong xây dựng khu công nghiệp xanh - thông minh cho thấy chính
sách môi trường có thể gắn trực tiếp với năng lực cạnh tranh công nghiệp thông
qua quản trị dữ liệu, hiệu quả năng lượng, giảm phát thải và tuần hoàn tài
nguyên. Kết luận số 75-KL/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa XIV đặt vấn đề bảo vệ môi trường và chủ động ứng phó biến đổi khí hậu
trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mô hình phát triển chất lượng cao. Cùng với
Chương trình hành động số 31-CTr/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 208/NQ-CP
ngày 4/8/2026 của Chính phủ, văn kiện thúc đẩy cách tiếp cận toàn diện: hoàn
thiện thể chế, tăng hiệu lực thực thi, giải quyết ô nhiễm, bảo tồn thiên nhiên,
thích ứng khí hậu, thúc đẩy chuyển đổi xanh và phát triển kinh tế tuần hoàn[8].
Kết
luận 75-KL/TW mở ra cơ hội củng cố cách tiếp cận trong đó bảo vệ môi trường và
ứng phó khí hậu là thành phần của năng lực cạnh tranh và chất lượng tăng
trưởng. Kinh nghiệm SGIC của Hàn Quốc cho thấy một khu công nghiệp có thể trở
thành nền tảng thực thi chính sách xanh nếu số hóa, năng lượng và môi trường
được kết nối trong cùng một cơ chế quản trị. Đối với Việt Nam, ưu tiên là
chuyển các mục tiêu thành dữ liệu, chỉ tiêu, trách nhiệm và kết quả có thể kiểm
chứng: bảo đảm xử lý nước thải đạt chuẩn; giảm cường độ năng lượng và phát
thải; thúc đẩy tuần hoàn tài nguyên; xây dựng hạ tầng chống chịu khí hậu; đồng
thời hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ. Một khu công nghiệp xanh không chỉ
là khu có nhiều thiết bị mới, mà là khu có thể chứng minh rằng sản xuất hiệu
quả hơn, ít ô nhiễm hơn và an toàn hơn cho người lao động cũng như cộng đồng.
TS.
Tống Thùy Linh, Trung tâm NC Hàn Quốc và Triều Tiên
Viện Nghiên cứu Châu Á
- Thái Bình Dương
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Báo Chính phủ,
“Chính phủ ban hành Nghị quyết số 208/NQ-CP về Chương trình hành động thực hiện
Kết luận số 75-KL/TW”, 04–07/08/2026,
https://baochinhphu.vn/chi-dao-dieu-hanh-cua-chinh-phu-thu-tuong-chinh-phu-noi-bat-tuan-1-7-8-2026-10226080711103321.htm
2. Cục Môi trường, “Từ quản lý đến quản trị môi trường hiện đại: Bước
chuyển chiến lược kiến tạo phát triển xanh”, 30/07/2026,
https://vea.mae.gov.vn/tin-tuc-su-kien/12685/tu-quan-ly-den-quan-tri-moi-truong-hien-dai-buoc-chuyen-chien-luoc-kien-tao-phat-trien-xanh
3. Cục Môi trường,
“Vĩnh Long: Toàn bộ nước thải trong khu công nghiệp đều được thu gom, xử lý”,
23/05/2025,
https://vea.mae.gov.vn/tin-tuc-su-kien/10798/vinh-long-toan-bo-nuoc-thai-trong-khu-cong-nghiep-deu-duoc-thu-gom-xu-ly
4. International
Energy Agency, “Korean New Deal 10 key projects – Smart and green industrial
complexes”: https://www.iea.org/policies/13205-korean-new-deal-10-key-projects-smart-green-industrial-complexes
5. Nghị định
35/2022/NĐ-CP về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế: https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=205413
6. Tống Thùy Linh,
“Quá trình hình thành và phát triển khu công nghiệp xanh - thông minh ở Hàn
Quốc”, Tạp chí Quản lý nhà nước, 12/10/2026, https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/10/12/qua-trinh-hinh-thanh-va-phat-trien-khu-cong-nghiep-xanh-thong-minh-o-han-quoc/
7. Quyết định
450/QĐ-TTg năm 2022 phê duyệt Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm
2030, tầm nhìn đến năm 2050 (tài liệu trên Cục Môi trường), https://vea.mae.gov.vn/Data/files/450_Q%C4%90-TTg_2022.pdf
8. World Bank, “Key Highlights: Country Climate
and Development Report for Vietnam”, 01/07/2022: https://www.worldbank.org/en/brief/2022/07/01/key-highlights-country-climate-and-development-report-for-vietnam
International Energy Agency, “Korean
New Deal 10 key projects – Smart and green industrial complexes”,
https://www.iea.org/policies/13205-korean-new-deal-10-key-projects-smart-green-industrial-complexes