Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia
TS. Nguyễn Tuấn
Anh
Chi bộ 3, Đảng bộ Viện Nghiên cứu Châu Á – Thái Bình Dương
Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cạnh
tranh chiến lược giữa các nước lớn và chuyển đổi số toàn cầu diễn ra mạnh mẽ,
khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngày càng trở thành yếu
tố quyết định năng lực cạnh tranh và vị thế phát triển của mỗi quốc gia.[i] Đối
với Việt Nam, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
không chỉ là yêu cầu khách quan của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa mà
còn là điều kiện quan trọng để thực hiện khát vọng đưa đất nước phát triển mạnh
mẽ trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên giàu mạnh, hùng cường, thực hiện thắng lợi mục
tiêu đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện
đại, thu nhập trung bình cao, đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập
cao. Trên cơ sở đó, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày
22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển
đổi số quốc gia. Nghị quyết thể hiện bước phát triển mới trong tư duy lý luận
và quan điểm chỉ đạo của Đảng về vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng
tạo và chuyển đổi số đối với phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Quang cảnh Hội nghị toàn quốc về đột phá phát triển khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Thứ nhất, Đảng xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực
chính để phát triển đất nước trong thời kỳ mới.
Vai trò của khoa học - công nghệ đối với sự phát triển của quốc
gia từ lâu đã được đề cập. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Nước nhà muốn phát triển,
muốn tiến bộ thì phải phát triển khoa học - kỹ thuật[ii];
đồng thời, Người luôn nhấn mạnh đến vai trò của tri thức, của sáng kiến cải tiến
kỹ thuật, coi đó là “chìa khóa” để nâng cao năng suất lao động, phát triển đất
nước. Đảng ta cũng luôn coi trọng phát triển khoa học, công nghệ. Các kỳ Đại hội
gần đây đều khẳng định: Phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là
quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt của tăng trưởng kinh tế và nâng cao
năng lực cạnh tranh quốc gia. Nghị quyết số 57-NQ/TW và Đại hội XIV tiếp tục bổ
sung và phát triển nhận thức này khi nhấn mạnh phát triển khoa học, công nghệ,
đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là “đột phá quan trọng hàng đầu”, là
“động lực chính để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản
xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn
chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ
nguyên mới”.[iii] Thực tiễn phát triển của
thế giới cho thấy, quốc gia nào nắm bắt, làm chủ và phát huy được vai trò của
khoa học, công nghệ, đổi mới, sáng tạo, quốc gia đó sẽ nắm giữ lợi thế cạnh
tranh; đưa đất nước phát triển hưng thịnh.[iv] Tuy
nhiên, trong quá trình thực hiện, việc phát huy vai trò của khoa học, công nghệ,
đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vẫn còn những rào cản, nút thắt, hạn chế, bất
cập cần được giải quyết thấu đáo, kịp thời, cả về tư duy phát triển, thể chế
chính sách, nguồn nhân lực, hạ tầng và văn hóa đổi mới sáng tạo. Đây là bước
phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy của Đảng khi đặt khoa học, công
nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào vị trí trung tâm của chiến lược
phát triển đất nước.
Thứ hai, Đảng xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số là cuộc cách mạng sâu sắc, toàn diện trên tất cả các
lĩnh vực của đời sống xã hội.
Nghị quyết 57 nhấn mạnh đây là “cuộc cách mạng sâu sắc, toàn
diện trên tất cả các lĩnh vực”, cần được triển khai quyết liệt, đồng bộ, kiên
trì, lâu dài với quyết tâm chính trị cao và các giải pháp mang tính cách mạng. Theo
quan điểm của Đảng, chuyển đổi số không chỉ là ứng dụng công nghệ thông tin hay
số hóa dữ liệu mà là quá trình đổi mới toàn diện mô hình phát triển, phương thức
quản trị quốc gia, tổ chức sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội. Nghị quyết
xác định rõ: người dân và doanh nghiệp là trung tâm, chủ thể, nguồn lực và động
lực chính của quá trình phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số; nhà khoa học giữ vai trò then chốt; Nhà nước đóng vai trò dẫn dắt,
kiến tạo, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi nhất cho phát triển.[v] Đây
là điểm mới rất quan trọng trong tư duy của Đảng khi chuyển mạnh từ tư duy quản
lý sang tư duy kiến tạo phát triển, lấy người dân, doanh nghiệp và hệ sinh thái
đổi mới sáng tạo làm trung tâm của quá trình chuyển đổi. Đồng thời, Nghị quyết
cũng nhấn mạnh yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy xây dựng pháp luật và quản lý nhà
nước; khắc phục tư duy “không quản được thì cấm”; tạo cơ chế thử nghiệm chính
sách, công nghệ và mô hình kinh doanh mới nhằm thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Thứ ba, Đảng xác định hoàn thiện thể chế là điều kiện tiên
quyết và phải đi trước một bước trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số.
Một trong những điểm đột phá nổi bật của Nghị quyết 57 là nhấn
mạnh vai trò của thể chế đối với phát triển khoa học – công nghệ và chuyển đổi
số. Nghị quyết khẳng định: “Thể chế là điều kiện tiên quyết, cần hoàn thiện và
đi trước một bước”.[vi] Theo đó, Đảng yêu cầu tiếp
tục hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo
và chuyển đổi số; xây dựng cơ chế đặc thù, vượt trội để thúc đẩy nghiên cứu
khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo. Nghị quyết nhấn mạnh việc
giao quyền tự chủ cao hơn cho các tổ chức khoa học – công nghệ; thúc đẩy thương
mại hóa kết quả nghiên cứu; khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho nghiên cứu –
phát triển (R&D); tạo hành lang pháp lý cho thử nghiệm công nghệ mới và mô
hình kinh doanh mới. Quan điểm này cho thấy sự chuyển biến mạnh mẽ trong tư duy
quản lý của Đảng, từ mô hình quản lý mang tính hành chính sang mô hình Nhà nước
kiến tạo phát triển, lấy đổi mới sáng tạo làm động lực tăng trưởng. Đồng thời,
Đảng cũng yêu cầu đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, xây dựng môi trường đầu
tư kinh doanh thuận lợi, minh bạch và thúc đẩy mạnh mẽ chuyển đổi số trong hoạt
động của bộ máy nhà nước.
Thứ tư, Đảng xác định nhân lực, dữ liệu, hạ tầng số và công
nghệ chiến lược là nền tảng quan trọng của phát triển quốc gia trong thời đại số.
Nghị quyết 57 nhấn mạnh 5 nội dung trọng tâm gồm: thể chế,
nhân lực, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược. Trong đó, Đảng ta khẳng định
nguồn nhân lực chất lượng cao là nhân tố quyết định hiệu quả phát triển khoa học
– công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Theo đó, Đảng yêu cầu đổi mới
căn bản giáo dục – đào tạo; phát triển mạnh nguồn nhân lực công nghệ số, nhân lực
chất lượng cao và đội ngũ chuyên gia đầu ngành trong các lĩnh vực công nghệ chiến
lược. Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài; phát huy vai trò của đội ngũ
trí thức, nhà khoa học và doanh nghiệp công nghệ trong phát triển đất nước.[vii]
Dữ liệu được xác định là “tư liệu sản xuất mới”, là nguồn tài
nguyên quan trọng và là nền tảng của chuyển đổi số. Đảng chủ trương phát triển
kinh tế dữ liệu, công nghiệp dữ liệu, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia đồng bộ,
kết nối và chia sẻ hiệu quả giữa các ngành, lĩnh vực; đồng thời bảo đảm an ninh
mạng, an ninh dữ liệu và chủ quyền số quốc gia. Bên cạnh đó, Nghị quyết nhấn mạnh
yêu cầu phát triển hạ tầng số hiện đại, đồng bộ, dung lượng lớn, an toàn và bền
vững; phát triển mạnh các công nghệ chiến lược như trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn,
dữ liệu lớn, điện toán đám mây, công nghệ sinh học, công nghệ lượng tử và công
nghệ số. Đảng cũng xác định cần hình thành và phát triển các doanh nghiệp công
nghệ số chiến lược của Việt Nam có năng lực cạnh tranh quốc tế, từng bước làm
chủ công nghệ lõi và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Quan điểm này phản
ánh nhận thức ngày càng sâu sắc của Đảng về vai trò của dữ liệu, công nghệ số
và đổi mới sáng tạo đối với phát triển lực lượng sản xuất hiện đại và nâng cao
năng lực cạnh tranh quốc gia trong thời đại số.
Thứ năm, Đảng xác định chuyển đổi số phải gắn với xây dựng
chính phủ số, kinh tế số, xã hội số và công dân số.
Đảng nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện trên
tất cả các lĩnh vực; xây dựng chính phủ số, kinh tế số, xã hội số và công dân số.
Theo đó, cần chuyển toàn bộ hoạt động của hệ thống chính trị lên môi trường số;
đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý và điều hành dựa trên dữ liệu số; thúc đẩy
sản xuất thông minh, quản trị thông minh và dịch vụ số trong các lĩnh vực kinh
tế - xã hội. Đảng cũng yêu cầu tăng cường ứng dụng công nghệ số trong giáo dục,
y tế, giao thông, tài chính, công nghiệp, nông nghiệp và quản lý đô thị; thúc đẩy
thanh toán số, thương mại điện tử và phát triển kinh tế số trở thành động lực
tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế. Quan điểm này cho thấy chuyển đổi số
trong nhận thức của Đảng hiện nay không chỉ là xu hướng công nghệ mà là quá
trình tái cấu trúc toàn diện nền kinh tế và phương thức quản trị quốc gia theo
hướng hiện đại, hiệu quả và bền vững.
Thứ sáu, Đảng xác định phải phát triển nhanh và bền vững, từng
bước làm chủ công nghệ chiến lược, ưu tiên nguồn lực quốc gia cho phát triển
khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Nghị quyết số 57-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu phát triển khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số theo hướng “phát triển nhanh và bền
vững”, từng bước tự chủ về công nghệ, nhất là các công nghệ chiến lược. Đây là
bước phát triển quan trọng trong tư duy của Đảng về xây dựng nền kinh tế độc lập,
tự chủ trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ toàn cầu ngày càng gay gắt và chuỗi
cung ứng quốc tế biến động mạnh. Việt Nam không thể tiếp tục phát triển chủ yếu
dựa vào lao động giá rẻ, khai thác tài nguyên hay gia công công nghệ mà cần
chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới
sáng tạo. Vì vậy, Nghị quyết 57 yêu cầu ưu tiên nguồn lực quốc gia cho phát triển
khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời phát huy tối
đa tiềm năng, trí tuệ Việt Nam gắn với nhanh chóng tiếp thu, hấp thụ, làm chủ
và ứng dụng các thành tựu khoa học – công nghệ tiên tiến của thế giới.
Đảng cũng nhấn mạnh cần đẩy mạnh nghiên cứu ứng dụng, chú trọng
nghiên cứu cơ bản, tiến tới tự chủ và nâng cao năng lực cạnh tranh công nghệ
trong một số lĩnh vực Việt Nam có nhu cầu, tiềm năng và lợi thế như trí tuệ
nhân tạo, bán dẫn, công nghệ số, công nghệ sinh học, dữ liệu lớn hay công nghệ
năng lượng mới. Quan điểm này cho thấy tư duy phát triển mới của Đảng: không chỉ
tiếp nhận công nghệ từ bên ngoài mà từng bước làm chủ công nghệ lõi, hình thành
năng lực đổi mới sáng tạo nội sinh và nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi
giá trị toàn cầu. Đồng thời, việc ưu tiên nguồn lực cho khoa học – công nghệ và
đổi mới sáng tạo cũng phản ánh nhận thức ngày càng sâu sắc của Đảng về vai trò
của tri thức, công nghệ và dữ liệu như những nguồn lực phát triển chiến lược
trong thời đại số. Đây là cơ sở quan trọng để Việt Nam tạo đột phá về năng suất
lao động, năng lực cạnh tranh và chất lượng tăng trưởng trong giai đoạn phát
triển mới.[viii]
Thứ bảy, Đảng xác định bảo đảm chủ quyền quốc gia trên không
gian mạng, an ninh mạng và an ninh dữ liệu là yêu cầu xuyên suốt trong quá
trình phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc
gia.
Một trong những điểm mới quan trọng của Nghị quyết số
57-NQ/TW là nhấn mạnh yêu cầu gắn chặt phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới
sáng tạo và chuyển đổi số với bảo đảm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia
trên không gian mạng. Nghị quyết khẳng định bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu
và an toàn thông tin của tổ chức, cá nhân là yêu cầu xuyên suốt, không thể tách
rời trong quá trình chuyển đổi số quốc gia. Quan điểm này phản ánh nhận thức
ngày càng đầy đủ của Đảng về những thách thức an ninh phi truyền thống trong thời
đại số. Trong bối cảnh dữ liệu trở thành “tư liệu sản xuất mới” và không gian mạng
trở thành môi trường chiến lược mới, các nguy cơ về tấn công mạng, đánh cắp dữ
liệu, gián điệp công nghệ, thao túng thông tin hay phụ thuộc công nghệ nước
ngoài có thể ảnh hưởng trực tiếp tới an ninh quốc gia, ổn định xã hội và chủ
quyền số của đất nước. Do đó, Đảng chủ trương phát triển hạ tầng số an toàn, hiện
đại; xây dựng hệ thống dữ liệu quốc gia đồng bộ; nâng cao năng lực bảo vệ dữ liệu
và an ninh mạng; đồng thời từng bước làm chủ các công nghệ lõi liên quan đến an
ninh số và chủ quyền số quốc gia. Nghị quyết cũng nhấn mạnh yêu cầu kết hợp chặt
chẽ giữa phát triển kinh tế số, xã hội số với bảo đảm quốc phòng, an ninh và lợi
ích quốc gia – dân tộc trong không gian mạng.
Nhìn chung, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị thể hiện
bước phát triển quan trọng trong tư duy và quan điểm của Đảng về phát triển
khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết
không chỉ xác định đây là đột phá chiến lược và động lực phát triển mới của đất
nước mà còn đề ra những định hướng lớn nhằm xây dựng nền kinh tế số, xã hội số
và quốc gia số hiện đại. Trong bối cảnh cạnh tranh công nghệ toàn cầu và cuộc
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra ngày càng mạnh mẽ, việc triển khai hiệu
quả Nghị quyết 57 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với mục tiêu phát triển
nhanh, bền vững và nâng cao vị thế của Việt Nam trong giai đoạn mới.
CHÚ THÍCH VÀ TÀI LIỆU THAM KHẢO
[i] Klaus Schwab (2016), The
Fourth Industrial Revolution, World Economic Forum.
[ii] Hồ Chí Minh, Toàn tập,
Tập 10, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 364.
[iii] Bộ Chính trị (2024), Nghị
quyết số 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển
đổi số quốc gia.
[iv] World Bank (2023), Digital
Development Report
[v] Đảng Cộng sản Việt Nam
(2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nxb
Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[vi] Bộ Chính trị (2024), Nghị
quyết số 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển
đổi số quốc gia.
[vii] Đảng Cộng sản Việt Nam
(2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Nxb
Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.
[vii]i Bộ Thông tin và
Truyền thông (2024), Báo cáo chuyển đổi số quốc gia.