Phát triển kinh tế số của Malaysia và một vài liên hệ cho Việt Nam trong bối cảnh thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW
Trương Quang Hoàn,
Trung tâm Nghiên cứu Đông
Nam Á, Viện Nghiên cứu Châu Á – Thái Bình Dương
1.
Mở đầu
Trong những năm gần đây, kinh tế số
đã trở thành một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế thế
giới và được nhiều quốc gia đặc biệt quan tâm. Khái niệm kinh tế số bao hàm các
hoạt động kinh tế và giao dịch hằng ngày giữa cá nhân, doanh nghiệp và cơ quan
nhà nước dựa trên nền tảng công nghệ thông tin và truyền thông (ICT). Gắn liền
với sự phát triển mạnh mẽ của Internet, kinh tế số không chỉ bao gồm thương mại
điện tử mà còn mở rộng sang các lĩnh vực như ứng dụng di động, trí tuệ nhân tạo
(AI), dữ liệu lớn và Internet vạn vật (IoT)[1].
Tại Việt Nam, Nghị quyết 57-NQ/TW ban
hành ngày 22/12/2024 về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và
chuyển đổi số quốc gia đã xác định nhiều mục tiêu chiến lược. Theo định hướng
này, Việt Nam đặt mục tiêu vươn lên nhóm ba quốc gia dẫn đầu Đông Nam Á về năng
lực cạnh tranh số, phát triển Chính phủ điện tử và nghiên cứu trí tuệ nhân tạo
(AI); đồng thời hướng tới việc kinh tế số đóng góp tối thiểu 50% GDP vào năm
2045. Nghị quyết cũng nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện thể chế, đầu tư đồng bộ cho
hạ tầng số và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao để tạo bước đột phá trong
tiến trình chuyển đổi số[2].
Bên cạnh đó, Văn kiện Đại hội XIV tiếp tục khẳng định vai trò của chuyển đổi số
và kinh tế số như những trụ cột quan trọng cho đổi mới mô hình tăng trưởng của
đất nước[3]. Sự
phát triển kinh tế số của Malaysia tạo ra các cơ hội và thách thức cho Việt Nam
trong phát triển kinh tế số nói riêng, phát triển kinh tế nói chung.
2. Thực
trạng phát triển kinh tế số của Malaysia
Chương trình trọng tâm của Malaysia trong
phát triển kinh tế số cần phải kể đến là Kế hoạch tổng thể Kinh tế số MyDIGITAL
giai đoạn 2021–2030, hướng tới mục tiêu đưa Malaysia trở thành quốc gia thu nhập
cao và trung tâm công nghệ số của khu vực. Theo định hướng của Tập đoàn Kinh tế
Kỹ thuật số Malaysia (MDEC), MyDIGITAL tập trung thúc đẩy chuyển đổi số trong
khu vực công và doanh nghiệp, đồng thời nâng cấp hạ tầng số và phát triển nguồn
nhân lực công nghệ cao của Malaysia. Kế hoạch được chia thành ba giai đoạn:
Giai đoạn 1 (2021-2022) xây dựng nền tảng cơ bản; Giai đoạn 2 (2023-2025) tăng
tốc chuyển đổi số; Giai đoạn 3 (2026-2030) hướng tới vai trò trung tâm khu vực
về nội dung số và an ninh mạng[4].
Bên cạnh đó, chiến lược này còn chú trọng xây dựng xã hội số toàn diện và bảo đảm
an toàn không gian mạng cho người dân.
Ngoài MyDIGITAL, Malaysia còn triển
khai nhiều chính sách hỗ trợ khác nhằm thúc đẩy nền kinh tế số cũng như lồng
ghép, định hướng phát triển kinh tế số như là trụ cột trong các chính sách
khác. Ví dụ, Chính sách Điện toán đám mây quốc gia được xây dựng với mục tiêu
biến Malaysia thành trung tâm điện toán đám mây của khu vực. Trong khi đó,
Chính sách Công nghiệp Quốc gia 4WRD ban hành năm 2018 tập trung vào việc đẩy mạnh
chuyển đổi số trong lĩnh vực sản xuất và các ngành dịch vụ liên quan để thích ứng
với xu thế công nghiệp lần thứ tư. Ngoài ra, Chính sách Đầu tư mới 2022 (NIP)
tiếp tục củng cố định hướng phát triển kinh tế số của Malaysia thông qua việc
khuyến khích đầu tư vào các ngành công nghệ có giá trị gia tăng cao[5]. NIP
2022 đặc biệt chú trọng phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật số, mở rộng các ứng
dụng và dịch vụ công nghệ phục vụ cộng đồng, cũng như tăng cường đầu tư cho cơ
sở hạ tầng số như nhận diện số, chữ ký điện tử, điện toán đám mây, dữ liệu lớn,
AI và IoT.
Năm 2021, Malaysia công bố Kế hoạch
Malaysia lần thứ 12 (12MP) cho giai đoạn 2021–2025, tập trung vào mục tiêu tăng
trưởng kinh tế đi đôi với phát triển bền vững. Trong lĩnh vực kinh tế số, kế hoạch
này hướng tới giải quyết các vấn đề như thiếu hụt thiết bị và dịch vụ số, khoảng
cách số giữa các khu vực và tình trạng quản lý phân tán. Đồng thời, Chính phủ Malaysia
cũng tăng cường đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) và thúc đẩy ứng dụng
các công nghệ mới trong nền kinh tế[6]. Đến
năm 2023, Malaysia tiếp tục ban hành Kế hoạch Tổng thể Công nghiệp Quốc gia
2030 (NIMP 2030) nhằm hiện đại hóa ngành sản xuất thông qua chuyển đổi số và
nâng cao kỹ năng số cho lực lượng lao động[7].
NIMP 2030 tập trung vào việc ứng dụng công nghệ và số hóa để thúc đẩy đổi mới,
nâng cao năng suất và chuyển đổi các ngành công nghiệp khỏi sự phụ thuộc vào
lao động tay nghề thấp. Kế hoạch này đặt ra mục tiêu hợp lý hóa và số hóa các
quy trình của chính phủ để cải thiện việc cung cấp dịch vụ công và đơn giản hóa
toàn bộ quy trình kinh doanh.
Malaysia đã đạt được nhiều bước tiến
quan trọng trong tiến trình chuyển đổi số, đặc biệt ở các lĩnh vực kinh tế chủ
chốt. Theo số liệu của Cục Thống kê Malaysia, khu vực kinh tế số của Malaysia,
bao gồm công nghệ thông tin– truyền thông (ICT) và thương mại điện tử, ngày
càng gia tăng vai trò đối với nền kinh tế quốc gia. Tỷ trọng đóng góp của lĩnh
vực này tăng từ 18,7% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2020 lên 19,2% năm 2021
và tiếp tục đạt 22,6% vào năm 2022. Đến năm 2023, con số này đạt mức cao nhất
là 23,5% trước khi duy trì ở mức 23,4% trong năm 2024. Đại dịch COVID-19 được
xem là một nhân tố thúc đẩy quá trình số hóa, khi các hoạt động trực tiếp bị hạn
chế và nhu cầu sử dụng nền tảng trực tuyến tăng mạnh. Trong năm 2024, ngành ICT
tạo việc làm cho khoảng 1,25 triệu lao động, tương đương 7,6% tổng việc làm của
Malaysia. Đồng thời, hạ tầng viễn thông tiếp tục được cải thiện đáng kể với tỷ
lệ phủ sóng mạng 4G trở lên đạt 98,4%, trong khi mạng 5G đã bao phủ khoảng
82,4% dân số[8].
3. Một vài liên hệ với
Việt Nam
Cùng với sự tăng trưởng kinh tế đáng
kể trong những năm gần đây, nền kinh tế số, đặc biệt là lĩnh vực ICT và thương
mại điện tử, đã đóng vai trò ngày càng quan trọng tại Việt Nam. Số liệu từ Cục
Thống kê cho thấy, giai đoạn 2020-2024, tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế
số trong toàn bộ nền kinh tế Việt Nam lần lượt đạt 12,66%, 12,87%, 12,83%,
12,87% và 13,17%. Trung bình, tỷ trọng giá trị tăng thêm kinh tế số trong GDP
giai đoạn 2020-2024 đạt khoảng 12,88%[9]. Tuy
nhiên, phát triển kinh tế số của Việt Nam hiện đối mặt với những thách thức
đáng kể như thiếu khung pháp lý với các chỉ số thực hiện rõ ràng, thiếu lao động
có kỹ năng số và cơ sở hạ tầng hiện đại. Ngoài ra, hiệu quả hợp tác giữa các cơ
quan chính phủ, các cơ sở giáo dục và doanh nghiệp vẫn còn hạn chế.
Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của
Bộ Chính trị nhấn mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển
đổi số đang là yếu tố quyết định phát triển của các quốc gia; là điều kiện tiên
quyết, thời cơ tốt nhất để nước ta phát triển giàu mạnh, hùng cường trong kỷ
nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Phát triển kinh tế số, chuyển đổi
số tiếp tục được xác định là động lực, trụ cột quan trọng để đổi mới mô hình
tăng trưởng, phát triển kinh tế nhanh và bền vững trong Nghị quyết Đại hội XIV
của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Các chính sách và thực tiễn phát triển
kinh tế số của Malaysia đặt ra những cơ hội cũng như thách thức đối với Việt
Nam trong phát triển kinh tế số nói riêng, trong phát triển kinh tế số nói
chung.
Về mặt cơ hội,
với năng lực cạnh tranh kỹ thuật số cao của Malaysia và tiềm năng phát triển
đáng kể của Việt Nam trong nền kinh tế số, có rất nhiều cơ hội hợp tác giữa hai
bên để hỗ trợ nền kinh tế số của Việt Nam. Trong lĩnh vực thương mại điện tử, hợp
tác giữa Malaysia và Việt Nam có nhiều tiềm năng trong việc tạo ra các nền tảng
thương mại điện tử và các phương thức thanh toán số, chẳng hạn như ví điện tử. Trong
lĩnh vực Edtech, nhu cầu về các công cụ học trực tuyến tại Việt Nam vẫn rất
cao. Do đó, có cơ hội hợp tác giữa Việt Nam và Malaysia về Edtech tại Việt Nam,
chẳng hạn như hệ thống quản lý học tập, quản lý trường học, học tập doanh nghiệp
và giáo dục mầm non là khả thi. Lĩnh vực gọi xe là một ngành tương đối mới tại
Việt Nam, vì vậy có nhiều cơ hội cho hợp tác Việt Nam - Malaysia, nhất là các dịch
vụ liên quan, như giao đồ ăn, dịch vụ cho thuê và dịch vụ mua sắm. Trong lĩnh vực
logistics, Malaysia và Việt Nam có nhiều cơ hội hợp tác trong đầu tư vào cơ sở
hạ tầng công nghệ và tạo ra bản đồ logistics số, kho dữ liệu tập trung và các nền
tảng số liên kết các dịch vụ vận tải đa phương thức tại Việt Nam. Bên cạnh đó, hợp tác giữa Việt Nam và Malaysia
trong lĩnh vực kết nối đào tạo nhân lực AI và kỹ năng số, thông qua các chương
trình giữa các trường đại học, trung tâm đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp công
nghệ hai nước có thể là hướng đi tiềm năng trong thời gian tới. Việt Nam và
Malaysia cũng có nhiều cơ hội tăng cường hợp tác trong các khuôn khổ khu vực, đặc
biệt là ASEAN trong việc xây dựng và thực hiện các chương trình hợp tác kinh tế
số.
Về mặt thách thức,
sự phát triển kinh tế số của Malaysia tạo thách thức cho Việt Nam trong cạnh
tranh thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài trong phát triển kinh tế số. Thách thức kế
tiếp đối với Việt Nam là yêu cầu nâng cao năng lực khu vực sản xuất trong nước
theo hướng áp dụng các tiến bộ của chuyển đổi số, AI trong sản xuất, quản trị
doanh nghiệp để có thể cạnh tranh hiệu quả trên thị trường quốc tế. Ngoài ra,
Việt Nam cũng phải đối mặt với bài toán thu hút và giữ chân nguồn lực lao động
có kỹ năng số cao.
Những cơ hội và thách thức đan xen
như trên đòi hỏi Việt Nam thực hiện quyết liệt các cải cách để thúc đẩy phát
triển kinh tế số như hoàn thiện khung khổ thể chế, phát triển nguồn nhân lực,
xây dựng cơ sở hạ tầng số và tăng cường thu hút và hợp tác quốc tế trong phát
triển các nền tảng kinh tế.
Chú thích và Tài liệu tham khảo
[1]
World
Economic Forum (2022), “Digital trust: How to unleash the trillion-dollar
opportunity for our global economy” (Niềm tin số: Làm thế nào để khai phá cơ hội
nghìn tỷ đô la cho nền kinh tế toàn cầu của chúng ta), August 17,
https://www.weforum.org/stories/2022/08/digital-trust-how-to-unleash-the-trillion-dollar-opportunity-for-our
[2] Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số
57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công
nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia,
https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-57-nqtw-ngay-22122024-cua-bo-chinh-tri-ve-dot-pha-phat-trien-khoa-hoc-cong-nghe-doi-moi-sang-tao-va-chuyen-11162
[3] Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thứ XIV (2026), “Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV”,
23/1/2026https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/upload/2006988/fck/phuongdt/nq_Daihoi14_(CT).pdf
[4]
Economic Planning Unit (2021),
“MyDigital Economy Blueprint” (Kế hoạch Kinh tế số), Prime Minister’s
Department, Putrajaya,
https://ekonomi.gov.my/sites/default/files/2021-02/malaysia-digital-economy-blueprint.pdf
[5]
Jusoh, S., & Abd Razak, M. F.
(2025), “Malaysia’s digital economy: policies and challenges for the ASEAN
economic community 2045” (Nền kinh tế số của Malaysia: Chính sách và thách thức
đối với Cộng đồng Kinh tế ASEAN năm 2045), in Ing, L. Y. (eds), ASEAN Digital Community 2045
Country Perspectives (Quan điểm của các quốc gia về Cộng đồng Số ASEAN 2045),
pp. 57-69, https://www.eria.org/uploads/ADC-2025-Country-Perspectives.pdf#page=6
[7] Ministry of Investment,
Trade and Industry, Malaysia (2023), “National Industrial Master Plan 2030
(NIMP 2030)” (Kế hoạch Tổng thể Công nghiệp Quốc gia 2030 (NIMP 2030)),
https://www.nimp2030.gov.my/nimp2030/resources/NIMP_2030.pdf
[9] Phùng
Thị Mỹ Linh (2025), “Thực trạng phát triển kinh tế số tại Việt Nam”, 03/6/2025,
https://kinhtevadubao.vn/thuc-trang-phat-trien-kinh-te-so-tai-viet-nam-31341.html