Phát triển văn hóa số, chủ quyền văn hóa số và cuộc đấu tranh chống các giá trị phản văn hóa hiện nay
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 cùng công cuộc số hoá đang làm thay đổi sâu sắc mọi phương diện của đời sống kinh tế - xã hội, dần định hình cuộc sống số, thời đại số và xã hội số. Sự chuyển dịch này một mặt tạo nên các cơ hội cho sự lan toả các giá trị Việt Nam trong một không gian mới, mặt khác cũng nổi lên các xu hướng mang tính phản văn hoá với sự bùng nổ các tin giả, xấu, độc. Sự nổi lên các giá trị đi ngược truyền thống, đi ngược các giá trị tốt đẹp cần được điều chỉnh kịp thời nhằm thiết lập một không gian số an toàn, lành mạnh, giữ vững chủ quyền số và phát huy sức mạnh nội sinh của dân tộc.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng Tổng thống Hàn Quốc
Lee Jae Myung và phu nhân thưởng thức tiết mục truyền thống của Việt Nam
nhân chuyến thăm của Tổng thống Hàn Quốc hồi tháng 4. Ảnh: Phạm Hải
Trong tiến trình phát triển của nhân loại, mỗi cuộc cách
mạng về công nghệ đều làm thay đổi sâu sắc đời sống kinh tế, chính trị, xã hội
và đặc biệt là đời sống văn hoá. Trong thời đại chuyển đổi số hiện nay, không
gian mạng không chỉ là môi trường trao đổi thông tin, giao tiếp và hợp tác, mà
còn trở thành không gian định hình giá trị, lan toả tư tưởng, hình thành lối sống
và tác động trực tiếp đến giá trị nhân bản của mỗi người và cách thức cá nhân
tương tác, định hình giá trị trong xã hội. Bởi vậy, văn hoá không còn chỉ tồn tại
trong các thiết chế truyền thống, mà đã bước sang một hình thái mới: văn hoá số.
Đây vừa là cơ hội để phát huy sức mạnh nội sinh, lan toả giá trị Việt Nam, song
cũng là thách thức đối với việc giữ gìn bản sắc, bảo vệ chủ quyền văn hoá và đấu
tranh chống các giá trị phản văn hoá đang xâm nhập ngày càng tinh vi.
Đối với Việt Nam, một dân tộc có truyền thống văn hiến
lâu đời, có bản sắc phong phú, có lịch sử đấu tranh kiên cường và có khát vọng
phát triển hùng cường, việc phát triển văn hoá số không chỉ là yêu cầu của thời
đại mà còn là nhiệm vụ chiến lược. Trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng, nếu
không chủ động làm chủ không gian số về văn hoá, chúng ta rất dễ rơi vào thế bị
động trong tiếp nhận, dễ bị tác động bởi những luồng thông tin độc hại, những sản
phẩm lệch chuẩn và những giá trị xa lạ với truyền thống dân tộc. Vì thế, phát
triển văn hoá số phải gắn liền với bảo vệ chủ quyền văn hoá số và chủ động đấu
tranh với sự xâm nhập của các giá trị phản văn hoá.
1. Văn hoá số và yêu cầu của
thời đại
Văn hoá số là toàn bộ các hoạt động sáng tạo, lưu giữ,
phổ biến, tiếp nhận và tương tác văn hoá được thực hiện trên nền tảng công nghệ
số.
Đó là số hoá di sản, xây dựng thư viện số, bảo tàng số, nghệ thuật số, nội dung
số, giáo dục số, truyền thông số, công nghiệp văn hoá số, cùng nhiều hình thức
sinh hoạt văn hoá mới nảy sinh trên không gian mạng. Văn hoá số không chỉ là việc
đưa sản phẩm văn hoá truyền thống lên internet, mà sâu xa hơn là sự thay đổi
căn bản phương thức sản xuất và tiêu dùng văn hoá trong xã hội hiện đại.
Sự phát triển của văn hoá số mang lại nhiều giá trị tích
cực. Trước hết, nó góp phần mở rộng khả năng tiếp cận văn hoá cho đông đảo nhân
dân, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, nơi điều kiện hưởng thụ văn hoá còn hạn chế.
Chỉ với một thiết bị thông minh và kết nối internet, người dân có thể tiếp cận
kho tàng tri thức, tìm hiểu lịch sử dân tộc, thưởng thức nghệ thuật, tham quan
bảo tàng, tra cứu tư liệu và tham gia các hoạt động giao lưu văn hoá. Đây là bước
tiến quan trọng trong quá trình dân chủ hoá đời sống văn hoá, góp phần thu hẹp
khoảng cách hưởng thụ giữa các vùng miền, các tầng lớp xã hội.
Không chỉ vậy, văn hoá số còn tạo điều kiện thuận lợi để
quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam ra thế giới một cách nhanh
chóng, sinh động và hiệu quả. Một sản phẩm nghệ thuật số có chất lượng, một
video ngắn về di sản văn hoá, một triển lãm số về lịch sử dân tộc hay một chiến
dịch truyền thông sáng tạo có thể lan toả mạnh mẽ, qua đó nâng cao vị thế, uy
tín và sức hấp dẫn của Việt Nam trên trường quốc tế. Trong thời đại mà sự chú ý
trở thành một nguồn lực đặc biệt quan trọng, ai làm chủ được không gian số, người
đó có lợi thế trong việc định hình nhận thức và lan toả thông điệp.
Bên cạnh đó, văn hoá số còn là động lực thúc đẩy phát
triển công nghiệp văn hoá, một lĩnh vực ngày càng giữ vai trò quan trọng trong
nền kinh tế hiện đại. Những ngành như điện ảnh, âm nhạc, thiết kế, trò chơi điện
tử, xuất bản số, nghệ thuật biểu diễn trực tuyến, du lịch văn hoá và sáng tạo nội
dung đang gắn chặt với công nghệ số. Nếu được đầu tư đúng hướng, đây sẽ là nguồn
lực lớn để chuyển hoá giá trị văn hoá thành giá trị kinh tế, đồng thời khơi dậy
tiềm năng sáng tạo của toàn xã hội.
Tuy nhiên, đi liền với cơ hội là những nguy cơ, thách thức
không thể xem nhẹ. Không gian số là môi trường mở, tốc độ lan truyền nhanh,
ranh giới mờ, khó kiểm soát tuyệt đối. Bên cạnh những giá trị tích cực, không
gian mạng cũng trở thành nơi xuất hiện dày đặc các nội dung độc hại, phản cảm,
lệch chuẩn, xuyên tạc, kích động, cổ suý lối sống thực dụng, vô cảm, cực đoan
và phi nhân văn. Nếu thiếu bản lĩnh văn hoá, thiếu năng lực thẩm định thông tin
và thiếu cơ chế quản trị phù hợp, văn hoá số có thể bị lợi dụng trở thành môi
trường để các giá trị phản văn hoá xâm nhập, lấn át và làm tổn thương nền tảng
tinh thần của xã hội.
2. Chủ quyền văn hoá số có
ý nghĩa chiến lược
Trong bối cảnh toàn cầu hoá và chuyển đổi số, chủ quyền
văn hoá không thể chỉ hiểu như việc bảo tồn di sản hay giữ gìn truyền thống
theo nghĩa tĩnh tại. Chủ quyền văn hoá số là khả năng của một quốc gia trong việc
làm chủ nội dung, dữ liệu, hạ tầng, nền tảng, quy tắc vận hành và định hướng
giá trị văn hoá trên môi trường số. Nói cách khác, đó là quyền và năng lực của
dân tộc trong việc tự xác định, tự bảo vệ và tự phát triển bản sắc văn hoá của
mình trước những tác động đa chiều từ các luồng thông tin xuyên biên giới và
các nền tảng công nghệ toàn cầu.
Một dân tộc muốn giữ vững độc lập, tự chủ không thể để
văn hoá của mình bị chi phối, bị dẫn dắt hoặc bị thay thế bởi các giá trị ngoại
lai xa lạ với bản sắc dân tộc. Văn hoá không chỉ là lĩnh vực tinh thần, mà còn
là nền tảng định hình nhân cách, lối sống, tư duy, niềm tin và khát vọng của
con người. Khi một cộng đồng không còn khả năng tự xác định đâu là giá trị cần
bảo vệ, đâu là điều cần loại bỏ, đâu là cái đẹp cần tôn vinh, đâu là cái xấu cần
phê phán, thì chủ quyền văn hoá đã bị suy yếu từ gốc rễ.
Chủ quyền văn hoá số thể hiện ở nhiều phương diện. Trước
hết là làm chủ dữ liệu văn hoá, tư liệu lịch sử và các nguồn lực tri thức của
dân tộc. Những giá trị như di sản, hiện vật, ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghệ
thuật dân gian và tri thức bản địa phải được số hoá, lưu giữ, bảo vệ và khai
thác bằng chính năng lực của quốc gia. Nếu không làm chủ dữ liệu, chúng ta dễ
rơi vào tình trạng lệ thuộc vào các nền tảng và hệ thống bên ngoài.
Thứ hai là làm chủ các nền tảng và không gian phân phối
nội dung. Một nền văn hoá số mạnh phải có hệ sinh thái số do người Việt xây dựng,
vận hành và kiểm soát ở mức độ phù hợp, có khả năng cạnh tranh, có độ an toàn
cao và phục vụ lợi ích quốc gia, dân tộc. Đây không phải là tư duy khép kín, mà
là tư duy tự chủ, tự cường trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng.
Thứ ba và quan trọng nhất là làm chủ hệ giá trị. Công
nghệ có thể thay đổi rất nhanh, nền tảng có thể thay đổi rất nhanh, song nếu một
dân tộc không giữ vững được hệ giá trị cốt lõi thì bản sắc sẽ bị xói mòn, sức mạnh
nội sinh sẽ suy giảm. Chính vì vậy, chủ quyền văn hoá số thực chất là chủ quyền
về giá trị, về chuẩn mực và về quyền tự quyết văn hoá của dân tộc trong thời đại
số.
3. Những biểu hiện của các
giá trị phản văn hoá
Hiện nay, các giá trị phản văn hoá đang thâm nhập vào đời
sống xã hội bằng nhiều hình thức tinh vi, phức tạp và rất khó nhận diện. Chúng
không chỉ tồn tại ở những nội dung thô tục, bạo lực hay kích động, mà còn ẩn
mình trong những sản phẩm tưởng như vô hại nhưng lại âm thầm làm xói mòn nền tảng
đạo đức, thẩm mỹ và niềm tin xã hội.
Một biểu hiện dễ nhận thấy là sự lan tràn của các nội
dung giật gân, câu view, những tin giả lan truyền nhanh, kích thích cảm xúc
tiêu cực trên mạng xã hội và các nền tảng video ngắn. Không ít sản phẩm không
còn đặt giá trị sáng tạo, giá trị giáo dục hay giá trị thẩm mỹ lên hàng đầu, mà
chạy theo lượt xem, lượt thích và tương tác bằng scandal, gây sốc, phản cảm hoặc
gây nhiều tranh cãi. Nếu xu hướng này kéo dài, công chúng, nhất là giới trẻ, rất
dễ bị bình thường hoá trước những điều lẽ ra phải bị phê phán.
Một biểu hiện khác là sự xuyên tạc, bóp méo các giá trị
văn hoá, lịch sử và đạo đức hay các tin giả, các xu hướng “lật sử” đang nổi lên
hiện nay. Có những nội dung cố tình cắt ghép sự kiện, trích dẫn phiến diện, lợi
dụng “góc nhìn khác” để gieo rắc hoài nghi, làm mất niềm tin hoặc hạ thấp cuộc
đời những danh nhân, anh hùng đã sống mãi trong lịch sử dân tộc. Đây là hình thức
tấn công tinh vi, nguy hiểm, bởi nó không phải lúc nào cũng mang dáng vẻ đối đầu
trực diện, mà thường núp dưới vỏ bọc “phản biện”, “đổi mới” hoặc “tự do biểu đạt”.
Đáng lo ngại hơn, cùng với làn sóng thông tin xuyên biên
giới, nhiều lối sống thực dụng, cá nhân cực đoan, hưởng thụ, vô cảm và lệch chuẩn
đang được cổ suý một cách ngấm ngầm nhưng mạnh mẽ. Không phải mọi yếu tố văn
hoá ngoại lai đều tiêu cực, song nếu tiếp nhận thiếu chọn lọc, xã hội rất dễ bị
cuốn vào những hệ giá trị xa lạ với truyền thống Việt Nam, làm suy giảm tinh thần
cộng đồng, trách nhiệm xã hội và sự tôn trọng những chuẩn mực tốt đẹp.
Đặc biệt, các giá trị phản văn hoá hiện nay còn được hỗ
trợ bởi thuật toán lan truyền của các nền tảng số. Những nội dung gây sốc, gây
tranh cãi thường có khả năng tiếp cận công chúng nhanh hơn, dễ hiện thị hơn, và
lan rộng hơn, từ đó tạo lợi thế không công bằng cho cái xấu, cái lệch, cái rẻ
tiền. Trong bối cảnh ấy, đấu tranh chống phản văn hoá không thể chỉ trông chờ
vào sự tự giác của người dùng, mà phải có chiến lược chủ động, bài bản và lâu
dài.
4. Văn hoá số trong bảo vệ
nền tảng tư tưởng
Văn hoá số không chỉ là lĩnh vực sáng tạo mà còn là một
mặt trận quan trọng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Bởi những gì con
người tiếp nhận hằng ngày trong không gian mạng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nhận
thức, tình cảm, niềm tin và hành vi xã hội. Nếu nội dung tích cực được lan toả,
nó sẽ góp phần củng cố đồng thuận xã hội, bồi đắp lòng yêu nước, tinh thần
trách nhiệm, ý thức kỷ luật và niềm tự hào dân tộc. Ngược lại, nếu nội dung độc
hại lấn át, nó sẽ gây nhiễu loạn nhận thức, làm suy giảm niềm tin, nuôi dưỡng
tâm lý hoài nghi, cực đoan và thờ ơ trước những giá trị đúng đắn.
Vì vậy, phát triển văn hoá số chính là một phương thức
quan trọng để xây dựng “lá chắn mềm” của xã hội trước các quan điểm sai trái,
thù địch và phản văn hoá. Trong thời đại số, ai chiếm được sự chú ý của công
chúng, ai tạo được nội dung hấp dẫn, ai sử dụng ngôn ngữ gần gũi, công nghệ hiện
đại và cách truyền tải phù hợp, người đó có lợi thế trong việc định hướng dư luận.
Do đó, muốn bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên lĩnh vực văn hoá, trước hết
phải làm cho văn hoá thực sự thấm sâu vào đời sống số bằng những sản phẩm có chất
lượng, có sức lan toả và có khả năng cạnh tranh cao.
Đấu tranh chống phản văn hoá vì thế không thể chỉ dừng ở
việc phê phán, cảnh báo hay ngăn chặn, mà còn phải chủ động xây dựng hệ sinh
thái nội dung tích cực, phong phú, hấp dẫn và giàu tính giáo dục. Phải có những
sản phẩm văn hoá số thực sự chinh phục được công chúng, đặc biệt là thanh niên.
Chỉ khi cái đẹp, cái đúng, cái thiện có sức sống trong không gian số thì mới có
thể từng bước đẩy lùi cái xấu, cái lệch và cái phản văn hoá.
5. Định hướng trọng tâm
trong phát huy các giá trị văn hoá trong thời đại số
Để phát triển văn hoá số gắn với bảo vệ chủ quyền văn
hoá số và đấu tranh chống xâm nhập các giá trị phản văn hoá, cần triển khai đồng
bộ nhiều giải pháp cả tầm vĩ mô cho tới rất vi mô. Cụ thể:
Trước hết, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế và cơ chế quản
lý đối với hoạt động văn hoá số. Hành lang pháp lý phải đủ rõ để quản lý nội
dung số, bảo vệ dữ liệu văn hoá, quyền tác giả, quyền sở hữu trí tuệ, đồng thời
tăng cường trách nhiệm của các nền tảng trong việc kiểm soát nội dung độc hại.
Thể chế phải vừa chặt chẽ để ngăn chặn vi phạm, vừa cởi mở để khuyến khích sáng
tạo và phát triển công nghiệp văn hoá.
Thứ hai, cần đầu tư mạnh cho hạ tầng số văn hoá. Muốn có
chủ quyền văn hoá số, phải có cơ sở dữ liệu văn hoá quốc gia, thư viện số, bảo
tàng số, kho tư liệu mở và các nền tảng phân phối nội dung do Việt Nam làm chủ ở
mức độ phù hợp. Việc số hoá di sản không chỉ nhằm lưu giữ lâu dài mà còn để phục
vụ giáo dục, nghiên cứu, quảng bá và phát triển. Ngoài ra, hạ tầng số còn giúp
việc kiểm soát, quản trị sự lây lan các giá trị phản văn hoá ngay khi mới xuất
hiện. Điều này có ý nghĩa quan trọng giúp làm trong sạch môi trường văn hoá số
hiện nay.
Thứ ba, phải đặc biệt chú trọng phát triển nguồn nhân lực
văn hoá số. Đây là yếu tố có ý nghĩa quyết định. Cần có đội ngũ cán bộ, nhà
sáng tạo, chuyên gia công nghệ, người làm truyền thông và những người hoạt động
trong lĩnh vực nội dung số có tri thức, có bản lĩnh, có trách nhiệm và am hiểu
sâu sắc giá trị văn hoá dân tộc. Đồng thời, phải nâng cao năng lực số cho toàn
dân, nhất là thanh thiếu niên, để họ biết chọn lọc thông tin, ứng xử có văn hoá
và tự bảo vệ mình trước các nội dung xấu độc.
Thứ tư, cần xây dựng và lan toả hệ giá trị Việt Nam
trong môi trường số. Những giá trị cốt lõi như yêu nước, nhân ái, nghĩa tình,
trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo, tôn trọng pháp luật phải được chuyển
hoá thành chuẩn mực ứng xử và tiêu chí định hướng trong không gian mạng. Khi hệ
giá trị được thể hiện rõ trong các sản phẩm văn hoá số, văn hoá dân tộc sẽ có sức
sống bền bỉ và khả năng tự đề kháng cao hơn.
Thứ năm, cần phát triển công nghiệp văn hoá gắn với bản
sắc dân tộc. Không thể chỉ nhập khẩu xu hướng, sao chép sản phẩm ngoại lai hay
tiêu dùng thụ động các giá trị bên ngoài. Việt Nam phải tạo ra những sản phẩm
văn hoá số vừa hiện đại, hấp dẫn, vừa giàu bản sắc, qua đó nâng cao năng lực cạnh
tranh của văn hoá Việt Nam trên trường quốc tế. Chỉ khi nội lực văn hoá mạnh
thì sức lan toả mới bền vững.
Tóm lại, phát triển
văn hoá số, bảo vệ chủ quyền văn hoá số và đấu tranh chống xâm nhập các giá trị
phản văn hoá là yêu cầu chiến lược trong thời đại mới. Đây không chỉ là vấn đề
của riêng ngành văn hoá hay riêng lĩnh vực công nghệ, mà là vấn đề của bản sắc
dân tộc, của nền tảng tinh thần xã hội và của tương lai đất nước. Một dân tộc
muốn phát triển bền vững phải biết giữ gìn cội nguồn, làm chủ hiện tại và định
hướng tương lai. Muốn vậy, phải xây dựng được một nền văn hoá số hiện đại nhưng
không mất gốc, mở rộng nhưng không hoà tan, hội nhập sâu rộng nhưng vẫn giữ vững
bản lĩnh và bản sắc Việt Nam. Hơn hết, với sự gia tăng ảnh hưởng của văn hoá đại
trung thời gian qua, văn hoá không chỉ là nền tảng tinh thần của xã hội mà còn
là nguồn lực mềm quan trọng trong sức mạnh quốc gia. Khi văn hoá mạnh, dân tộc
sẽ có bản lĩnh; khi bản lĩnh vững, xã hội sẽ có sức đề kháng; khi sức đề kháng
mạnh, con người sẽ có khả năng phân biệt đúng sai, thiện ác, đẹp xấu; và khi
con người có niềm tin, có chuẩn mực, có khát vọng thì đất nước sẽ có sức mạnh
phát triển bền vững. Chính vì vậy, phát triển văn hoá số phải đi liền với giữ vững
chủ quyền văn hoá số; bảo vệ chủ quyền văn hoá số phải gắn với đấu tranh chống
phản văn hoá; và đấu tranh chống phản văn hoá phải bắt đầu từ việc xây dựng con
người Việt Nam có tri thức, có đạo đức, có bản lĩnh, có trách nhiệm và có khát
vọng vươn lên. Đó chính là con đường để văn hoá thực sự trở thành sức mạnh nội
sinh của dân tộc trong kỷ nguyên số.
Nguyễn Thị Nhàn
Viện Nghiên cứu Châu Á - Thái Bình Dương