Hội thảo khoa học "Chiến lược cường quốc khoa học kỹ thuật của Trung Quốc: Đánh giá và hàm ý đối với Việt Nam"
Sáng ngày 24 tháng 06 năm 2026, Viện Nghiên cứu Châu Á – Thái Bình Dương đã tổ chức Hội thảo khoa học Chiến lược cường quốc khoa học kỹ thuật của Trung Quốc: Đánh giá và hàm ý đối với Việt Nam. Đây là hội thảo nằm trong kế hoạch thực hiện nhiệm vụ cấp Bộ giai đoạn 2025-2026 về Chiến lược cường quốc khoa học kỹ thuật của Trung Quốc và hàm ý đối với Việt Nam do TS. Trần Thị Thuỷ làm chủ nhiệm, Viện Nghiên cứu Châu Á – Thái Bình Dương chủ trì. Hội thảo đã thu hút sự tham gia đông đảo của các chuyên gia, các nhà quản lý và doanh nghiệp về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo trong nước.
Các tham luận chính của Hội thảo đã tập
trung ba nội dung chính: Một là, đánh giá lại chủ trương, chính sách và kết quả
bước đầu của chiến lược cường quốc khoa học kỹ thuật của Trung Quốc; Hai là,
đánh giá tác động và thời cơ đối với Việt Nam trong hợp tác khoa học kỹ thuật với
Trung Quốc; Ba là, thảo luận và đề xuất một số hàm ý đối với Việt Nam.
TS. Nguyễn Xuân Cường – Viện trưởng Viện NC Châu Á
– Thái Bình Dương phát biểu khai mạc Hội thảo (Ảnh: Ngọc Ánh)
Trong nội dung đánh giá về chiến lược cường
quốc khoa học kỹ thuật Trung Quốc, các
chuyên gia nhận định rằng việc Trung Quốc nhanh chóng chuyển đổi thành một
trong những trung tâm đổi mới sáng tạo hàng đầu thế giới là kết quả của quá
trình phát triển tuyến tính, đã được thiết kế kỹ lưỡng ở tầm quy hoạch quốc gia
ngay từ khi bắt đầu cải cách mở cửa cho đến nay. Kết quả đó cũng xuất phát từ nền
tảng văn minh Trung Hoa và tố chất dân tộc của người Trung Quốc - TS. Trần Thị
Thuỷ (Phó giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc, Viện Nghiên cứu Châu Á –
Thái Bình Dương) nhận định. Trong góc nhìn đánh giá về công cụ thực hiện, TS.
Phạm Sỹ Thành (Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chiến lược Trung Quốc)
cho rằng, Trung Quốc đã sử dụng bốn nhóm công cụ chính, gồm cải cách bộ máy tổ
chức, xây dựng các tổ chức chỉ đạo và thực hiện theo hàng ngang, nhận sự chỉ đạo
trực tiếp từ Chủ tịch Tập Cận Bình và các uỷ ban Trung ương; các chính sách tài
chính hỗ trợ trước và hỗ trợ sau; chính sách nguồn nhân lực, tập trung vào đào
tạo nhân tài trong nước và thu hút nhân tài nước ngoài; chính sách về công nghệ
tập trung vào chính sách về sở hữu trí tuệ, liên doanh, cưỡng bức chuyển giao
công nghệ, mô hình lưỡng dụng quân – dân sự.v.v. TS. Phạm Sỹ Thành cũng đồng thời
đưa ra một số nhận định như “các ngành có rào cản thị trường lớn, R&D cao
thì Trung Quốc đều khó khăn, ví dụ như bán dẫn”, “những ngành có công nghệ
không quá phức tạp, chỉ cần có chính sách ngành mang tính hỗ trợ cho việc tích
hợp theo chiều dọc chuỗi cung ứng để tạo ra lợi thế kinh tế theo quy mô thì
Trung Quốc sẽ vươn lên (EV, năng lượng mặt trời, đất hiếm)”.
Các chuyên gia phát biểu tham luận tại Hội thảo (Ảnh:
Ngọc Ánh)
Ở nội dung đề xuất các hàm ý đối với Việt
Nam, các chuyên gia đã lần lượt phân tích về đột phá chiến lược, vấn đề đặt ra và
chính sách huy động vốn cho các mục tiêu về khoa học công nghệ của Việt Nam. Trong
bài phát biểu của mình, TS. Hoàng Xuân Long (Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược và Chính sách KH&CN,
Bộ Khoa học Công nghệ) đã chỉ ra các nội dung đột phát trong chủ trương, chính
sách phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo của Việt Nam như xác định
khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo gắn liền với độc lập, tự chủ về kinh tế;
với việc nắm bắt cơ hội phát triển đất nước; khoa học công nghệ và đổi mới sáng
tạo là một đột phá chiến lược của phát triển đất nước, nâng cấp vị thế của lĩnh
vực này từ “lĩnh vực ưu tiên” lên “trụ cột kiến tạo”, có tính quyết định đối với
toàn bộ mô hình phát triển quốc gia. Bên cạnh đó, tác giả Hoàng Xuân Long cũng
chỉ ra 15 vấn đề đặt ra hiện nay từ thiết kế nội dung chính sách, triển khai thực
thi chính sách và xử lý hậu quả do chính sách không khả thi.
Bên cạnh đó, PGS.TS. Vũ Sỹ Cường (Kinh tế
trưởng, Viện Công nghệ và Phát triển Tài chính, Học viện Tài chính, Bộ Tài
chính) với tham luận về chính sách huy động vốn để phát triển khoa học công nghệ
đã nhận định, tổng vốn đầu tư cho R&D tăng qua các năm, tuy nhiên số liệu
cho thấy Việt Nam đang chi tiêu quá ít cho R&D. Trong hàm ý chính sách,
PGS.TS. Vũ Sỹ Cường cũng nhấn mạnh đến việc triển khai cơ chế nhằm đồng tài trợ
R&D cho doanh nghiệp theo hướng nhà nước tài trợ 30-70% kinh phí, doanh
nghiệp đối ứng phần còn lại nhằm chia sẻ rủi ro, tăng khả năng thử nghiệm công
nghệ mới tại doanh nghiệp.
Trên cơ sở những đánh giá về chiến lược cường
quốc khoa học kỹ thuật của Trung Quốc và những điểm đột phá hiện nay tại Việt
Nam, các học giả cũng đưa ra các phân tích về khả năng thúc đẩy hợp tác trong
lĩnh vực này của Việt Nam và Trung Quốc. TS. Lê Xuân Lực (Phó ban Ban Hợp tác
doanh nghiệp, Khoa Điện tử Viễn thông, Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc
gia Hà Nội) đã phân tích tiềm năng trong đẩy mạnh hợp tác giữa các trường đại học,
viện nghiên cứu giữa Việt Nam và Trung Quốc, đặc biệt là việc liên kết để sử dụng
chung các phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia, tạo ra sự chuyển dịch nhân tài
khoa học công nghệ giữa hai nước. TS. Nguyễn Thị Phương Hoa (Tổng biên tập Tạp
chí Nghiên cứu Châu Á – Thái Bình Dương) nhấn mạnh khoa học và công nghệ là động
lực mới trong quan hệ cộng đồng chia sẻ tương lai có ý nghĩa chiến lược giữa Việt
Nam và Trung Quốc. Ông Văn Đức Phú (Phó ban Ban hỗ trợ thông tin và xúc tiến đầu
tư, Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Tài chính) cũng đồng thời phân tích sự dịch chuyển
làn sóng đầu tư vào lĩnh vực khoa học công nghệ ở Việt Nam của các doanh nghiệp
Trung Quốc trong thời gian gần đây.
Trong kết luận bế mạc, TS. Nguyễn Xuân Cường
cho rằng Hội thảo đã góp phần nhận diện các chính sách KHCN của Trung Quốc, các
cơ hội và vấn đề đặt ra đối với Việt Nam; bàn luận và đưa ra các kiến nghị góp
phần thúc đẩy các giải pháp KHCN, đổi mới sáng tạo theo tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW. TS. Nguyễn Xuân Cường
cũng đồng thời gửi lời cảm ơn đến sự tham dự của các chuyên gia, đại biểu tham
dự và hy vọng các diễn đàn khoa học của Viện Nghiên cứu Châu Á – Thái Bình
Dương sẽ tiếp tục nhận được sự quan tâm và ủng hộ của các chuyên gia, học giả
và các cộng tác viên./.
TS. Trần Thuỷ bt