Kinh tế biển theo Nghị quyết 20-NQ/TW: Chuyển mạnh tư duy từ quản lý theo ngành sang quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia
9 nội dung đáng chú ý của Nghị quyết 20-NQ/TW 2026 về phát triển kinh tế biển (Ảnh minh họa)
Nghị quyết mới, tư duy mới về biển
Ngày 28/7/2026, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã ban hành Nghị
quyết số 20-NQ/TW về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
Đây là bước tiếp nối và phát triển vượt bậc từ Nghị quyết số 36-NQ/TW năm 2018.
Nếu Nghị quyết 36 đặt trọng tâm vào phát triển bền vững kinh tế biển, thì Nghị
quyết 20 mở rộng mục tiêu hướng tới xây dựng một quốc gia biển mạnh toàn diện.
Trong bài phát biểu chỉ
đạo tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực
hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô
Lâm nhấn mạnh: “Kinh tế biển chỉ là một thành tố trong mục tiêu xây dựng quốc
gia biển mạnh”.[3]
Thông
điệp ngắn gọn trên đã hàm chứa được cách tiếp cận hoàn toàn mới của Nghị quyết 20: chuyển dịch mạnh mẽ trong tư duy từ cách tiếp cận quản lý hành chính
theo từng ngành riêng lẻ sang quản trị không gian biển chiến lược, tích hợp và
thống nhất trên phạm vi quốc gia.
Sự thay đổi trong cách tiếp
cận: Từ “quản lý ngành” sang “quản trị không gian”
Cách tiếp cận theo
ngành truyền thống tập trung vào việc phát triển và quản lý các lĩnh vực kinh tế
biển tách biệt như thủy sản, dầu khí, hàng hải hay du lịch.
Trả
lời báo Vietnamnet, GS. Carl Thayer cho rằng mô hình này đã bộc
lộ bốn điểm nghẽn lớn: (1) Sự phối hợp giữa các bộ ngành rất hạn chế; (2) Tư
duy “tận thu” tài nguyên gây cạn kiệt nguồn lợi; (3) Phát triển chủ yếu tập
trung ở vùng ven bờ và (4) Bảo vệ môi trường bị xem là ưu tiên thứ yếu. [4]
Ngược lại, tiếp cận
không gian nhìn nhận biển là một chỉnh thể thống nhất. Trong cùng một không
gian biển, các ngành như năng lượng tái tạo, vận tải, du lịch và bảo tồn có thể
cùng tồn tại và phát triển đồng thời với hiệu quả cao hơn.[4]
Sự chuyển đổi này là cấp thiết vì nguồn lợi tài nguyên hữu hạn đang suy giảm,
trong khi các nhu cầu mới về Kinh tế biển xanh như điện gió ngoài khơi, hành
lang hàng hải số và nông nghiệp biển công nghệ cao đòi hỏi một mô hình quản trị
tích hợp để tối ưu hóa lợi ích và giảm thiểu xung đột giữa các ngành.
Từ Nghị quyết 36 đến Nghị
quyết 20
Nếu Nghị quyết
36-NQ/TW đặt nền móng cho phát triển bền vững kinh tế biển thông qua việc xác định
các ngành ưu tiên và các vùng trọng điểm, thì Nghị quyết 20-NQ/TW đã mở rộng
cách tiếp cận từ phát triển kinh tế biển sang tổ chức và quản trị toàn bộ không
gian biển quốc gia.
Nghị quyết 36 tổ chức
chiến lược phát triển kinh tế biển theo hai trục tương đối rõ: ngành và vùng. Về
ngành, Nghị quyết xác định 6 ngành, lĩnh vực kinh tế biển được ưu tiên gồm du lịch
và dịch vụ biển; kinh tế hàng hải; khai thác dầu khí và các tài nguyên, khoáng
sản biển khác; nuôi trồng và khai thác hải sản; công nghiệp ven biển; năng lượng
tái tạo và các ngành kinh tế biển mới. Về không gian, định hướng phát triển được
triển khai theo 4 vùng biển và ven biển lớn.[1] Cách tổ chức này tạo
ra một khung chính sách trực diện: xác định ngành nào cần ưu tiên và vùng nào cần
tập trung nguồn lực, từ đó thúc đẩy khai thác lợi thế so sánh của từng khu vực
và từng ngành.
Giờ đây, Nghị quyết 20
đưa cách tiếp cận lên một cấp độ rộng hơn. Thay vì chủ yếu tổ chức phát triển
theo các ngành kinh tế và các vùng biển, ven biển, nghị quyết đặt không gian biển
quốc gia vào vị trí trung tâm. Cùng với đó là định hướng hình thành các cực
tăng trưởng, hành lang kinh tế biển, phát triển kinh tế biển hiện đại, xanh,
thông minh với động lực chính là tăng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo. [2]
Nói cách khác, các ngành kinh tế biển không còn được xem như những cấu phần
tương đối riêng biệt, mà được đặt trong một không gian phát triển có tính liên
kết, nơi hạ tầng, đô thị, công nghiệp, logistics, năng lượng, thủy sản, du lịch,
khoa học – công nghệ, môi trường và quốc phòng – an ninh cùng được tổ chức và
điều phối.
Điểm quan trọng cần nhấn
mạnh là Nghị quyết 20 không phủ nhận vai trò của các ngành kinh tế biển được
xác định trong Nghị quyết 36. Cảng biển, vận tải biển, thủy sản, du lịch, công
nghiệp ven biển hay năng lượng vẫn là những nền tảng quan trọng của kinh tế biển
Việt Nam. Sự thay đổi nằm ở cách đặt các ngành này trong tổng thể phát triển. Nếu
Nghị quyết 36 chủ yếu trả lời câu hỏi “phát triển ngành nào và ở vùng nào?”,
thì Nghị quyết 20 đặt thêm câu hỏi “các ngành đó được tổ chức, kết nối và vận
hành như thế nào trong toàn bộ không gian biển quốc gia?”. Vì vậy, quản trị biển
giờ đây không chỉ là quản lý hành chính mà bao hàm việc điều phối hiệu quả toàn
bộ không gian biển dựa trên dữ liệu, bền vững và hài hòa lợi ích.
Ý nghĩa đối với kinh tế biển
Việt Nam
Việc chuyển đổi tư duy sang quản trị
không gian mở ra một cấu trúc kinh tế biển mới cho đất nước. Biển trở thành không gian
phát triển chiến lược để thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số thông qua
các động lực mới được giải phóng.
Tư duy quản trị không
gian cho phép Việt Nam thoát khỏi sự bó hẹp của địa giới hành chính, tổ chức lại
toàn bộ không gian phát triển quốc gia từ góc nhìn toàn diện và bền vững hơn.
Với mô hình mới, biển
còn đóng vai trò là “không gian thử nghiệm cải cách”, nơi áp dụng các thể chế mới
để tìm kiếm động lực tăng trưởng đột phá cho đất nước.
Trên hết, sự hiện diện
kinh tế mạnh mẽ thông qua quản trị không gian là hình thức khẳng định chủ quyền
bền vững nhất. Một nền kinh tế biển mạnh, có năng lực quản trị hiện đại tự thân
nó sẽ tạo ra năng lực bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, biến chủ quyền không chỉ là
những tuyên bố pháp lý mà là năng lực thực thi và kiểm soát thực tế trên biển.
Những điều kiện để đưa tư
duy mới vào mô hình quản trị thực tế
Để hiện thực hóa bước
chuyển từ tư duy sang hành động theo tinh thần Nghị quyết 20, Việt Nam cần hội
đủ các điều kiện tiên quyết ở ba tầng: lý luận, thể chế và thực thi.
(1) Ở tầng lý luận, cần xây dựng một cách tiếp cận thống nhất về
không gian biển quốc gia. Không gian này không chỉ được hiểu theo nghĩa địa lý,
tức là mặt biển, vùng nước, đáy biển và các khu vực ven biển. Nó còn bao gồm những
không gian kinh tế, xã hội, sinh thái, công nghệ, dữ liệu và an ninh,… hình
thành trên và từ biển. Ta cần nhận diện đầy đủ cả cấu phần vật lý và phi vật
lý, hữu hình và vô hình của không gian biển.
Quan
trọng hơn, không thể nghiên cứu từng không gian này một cách biệt lập. Cần làm
rõ cách chúng tương tác với nhau và tương tác với không gian phát triển chung của
đất nước. Một cảng biển không chỉ là một công trình giao thông. Nó liên kết với
khu công nghiệp, logistics, đô thị, năng lượng, thương mại quốc tế và hệ thống
giao thông trên đất liền,…
Đây
là nền tảng lý luận để xây dựng một hệ thống thể chế toàn diện. Nếu chưa xác định
được các cấu phần và mối quan hệ giữa chúng, rất khó thiết kế cơ chế quản trị
có khả năng điều phối các lợi ích khác nhau trên cùng một không gian biển.
(2)Ở tầng thể
chế, trên cơ sở cách tiếp cận
mới về không gian biển, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng phù hợp với
tư duy quản trị tích hợp. Việc cần
làm đầu tiên là rà soát, sửa đổi Quy hoạch không gian biển
quốc gia. Vì đây là nền tảng pháp
lý để các chính sách ngành có thể kết nối và tương thích với nhau trong cùng một
không gian biển.
Thứ
hai, cần nhanh chóng thành lập một cơ quan điều phối không gian biển quốc gia.
Cơ quan này phải có đủ thẩm quyền, thông tin để điều hòa lợi ích liên ngành và
liên vùng, phân bổ không gian hướng tới lợi ích tổng thể cao nhất. Không gian
biển liên quan đến nhiều bộ, ngành, địa phương và nhóm lợi ích. Nếu mỗi chủ thể
tiếp tục thực hiện chức năng trong phạm vi riêng của mình, tư duy quản trị tổng
hợp sẽ khó chuyển thành thực tế.
Thứ
ba, bên cạnh cơ chế quản trị, cần hình thành môi trường và diễn đàn kết nối các
chủ thể kinh tế biển. Các doanh nghiệp cảng biển, logistics, vận tải, thủy sản,
năng lượng, du lịch, công nghiệp, công nghệ và dịch vụ biển hiện thường hoạt động
theo những chuỗi giá trị khác nhau. Trong khi đó, nhiều cơ hội phát triển mới lại
nằm chính ở sự kết nối giữa các ngành này. Vì vậy, cần có các cơ chế thúc đẩy
doanh nghiệp liên kết kinh doanh, chia sẻ dữ liệu, trao đổi thông tin, hình
thành chuỗi cung ứng và cùng phát triển các dự án liên ngành. Điều này giúp các doanh nghiệp khác ngành có thể cùng khai thác hiệu quả trên một
không gian biển mà không gây xung đột lợi ích
(3) Ở tầng thực thi, việc tiên quyết là xây dựng hệ thống dữ liệu
biển quốc gia và bản đồ số đại dương. Đây phải là một “bản đồ số động” tích hợp
thông tin liên ngành từ hải văn, địa chất đến an ninh, quốc phòng để phục vụ quản
trị theo thời gian thực và xác lập chủ quyền dữ liệu đại dương. Khác với bản đồ
quy hoạch tĩnh, bản đồ số động cần có khả năng cập nhật thường xuyên sự thay đổi
của các hoạt động trên biển. Khi một khu vực được sử dụng cho ngành kinh tế, bảo
tồn hay giao thông hàng hải, hệ thống phải cho phép các cơ quan quản lý và
doanh nghiệp nhìn thấy các lớp thông tin trực tiếp theo phân quyền. Đây là cơ sở
quan trọng để ra quyết định, hạn chế chồng lấn không gian và nâng cao hiệu quả
sử dụng biển.
Thứ
hai, cần đẩy mạnh tư duy thiết kế đa dụng cho hạ tầng:
Thay vì chỉ dừng lại ở tư duy lưỡng dụng (kinh tế và quốc phòng), cần tiến tới
thiết kế đa dụng cho mọi hạ tầng biển. Ví dụ, các trạm biến áp và móng tua-bin
điện gió ngoài khơi không chỉ phát điện mà còn tích hợp cảm biến giám sát môi
trường, trạm quan trắc sóng, thiết bị hỗ trợ tìm kiếm cứu nạn và các nền tảng
nghiên cứu khoa học biển
Thứ
ba, cần có cơ chế lựa chọn và thu hút một số doanh nghiệp, tập đoàn lớn, có khả
năng đầu tư dài hạn làm lực lượng mũi nhọn trong những lĩnh vực kinh tế biển có
giá trị gia tăng cao. Cơ chế ưu đãi cần có tính chọn lọc
và gắn với kết quả, thay vì hỗ trợ dàn trải. Mục tiêu cuối cùng không chỉ là thu hút thêm vốn đầu tư, mà là tạo ra
những doanh nghiệp có khả năng dẫn dắt các chuỗi giá trị biển mới và đưa Việt
Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị biển toàn cầu.
Kết luận
Nghị
quyết 20-NQ/TW đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong tư duy về biển của
Việt Nam. Điểm thay đổi quan trọng là ở cách nhìn nhận biển như một không gian
phát triển chiến lược, trong đó kinh tế, xã hội, môi trường, khoa học – công
nghệ, quốc phòng và an ninh có quan hệ tương tác chặt chẽ.
Từ
góc độ kinh tế biển, điều này đòi hỏi Việt Nam chuyển từ tư duy “quản lý từng
ngành trên biển” sang “quản trị tổng thể không gian biển quốc gia”. Các ngành
kinh tế biển vẫn giữ vai trò nền tảng, nhưng hiệu quả phát triển không còn được
quyết định bởi khả năng mở rộng riêng lẻ của từng ngành. Lợi thế mới nằm ở khả
năng kết nối liên ngành; đồng thời kết nối các không gian biển với không gian
phát triển trên đất liền. Đây là cơ sở để hình thành những động lực tăng trưởng
mới và nâng cao vị thế của Việt Nam trong các chuỗi giá trị biển toàn cầu.
Tuy
nhiên, khoảng cách giữa tư duy chính sách và mô hình quản trị thực tế vẫn là vấn
đề cần giải quyết. Muốn Nghị quyết 20 trở thành một bước chuyển thực chất, Việt
Nam cần đồng thời hoàn thiện nền tảng lý luận về không gian biển, đổi mới thể
chế quản trị, xây dựng cơ chế điều phối liên ngành và phát triển hệ thống dữ liệu
biển quốc gia. Trong đó, quy hoạch không gian biển, cơ quan điều phối ở cấp quốc
gia và bản đồ số đại dương là cấu phần nền tảng của mô hình quản trị mới. Nếu
thiếu những công cụ này, tư duy quản trị tổng hợp không thể đi vào thực tiễn.
Tài liệu tham khảo:
1. Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22
tháng 10 năm 2018 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa
XII về Chiến lược phát triền bền vũng kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm
nhìn đến năm 2045
2. Nghị quyến số 20-NQ/TW ngày 28 tháng 07 năm 2026 của Hội nghị lần thứ ba
Ban Chấp hành Trung ương về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia
biển mạnh
3. PetroTimes (2026). Kỳ 1: Từ phát triển kinh tế biển đến quốc gia biển mạnh.
Petrovietnam/PetroTimes https://petrovietnam.petrotimes.vn/ky-1-tu-phat-trien-kinh-te-bien-den-quoc-gia-bien-manh-744051.html
4. VietNamNet (2026). Bốn khác biệt căn bản trong tư duy mới về biển. https://vietnamnet.vn/bon-khac-biet-can-ban-trong-tu-duy-moi-ve-bien-2539260.html
Nguyễn Thành Chung
Trung tâm nghiên cứu Biển
Đông và Nam Thái Bình Dương